[7] Dòng Văn Học Nhật Ký Và Tùy Bút Cái Nhìn Sắc Bén Về Cuộc Đời Của Những Kẻ Đứng Bên Lề

NHẬT KÝ THỜI HEIAN:

Trong xã hội quí tộc Nhật Bản, vai trò của nikki (nhật ký) là ghi chép các việc công hằng ngày. Viết bằng chữ Hán, nó được dùng như một thứ tài liệu thực dụng để ghi nhớ mọi việc (bị vong lục) và do các quan chức thường là phái nam đảm nhiệm. Nikki bằng chữ quốc âm kana cũng đã xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ 10 để ghi lại diễn biến của những cuộc thi tài ở các cuộc bình thơ (uta-awase) chẳng hạn, nhưng việc ghi chép nầy vẫn còn có tính cách công cộng. Phải đợi đến Tosa nikki (Thổ Tá nhật ký) thì thể loại Nhật Ký viết bằng quốc âm Kana mới được coi như một hình thức văn chương. Thể loại này cần được hiểu theo nghĩa rộng nghĩa là bút ký có lẫn chủ quan chứ không phải “ghi chép hằng ngày” khách quan vô tư. Nó bao gồm cả những suy tư có tính chất nội tâm (jishô = tự chiếu) và thường chen cả thơ waka vào nữa.Tuy ngày nay người Nhật vẫn tiếp tục viết nikki nhưng cái gọi là “văn học nikki” của họ đã thuộc hẳn vào một thời đại quá vãng (thế kỷ 10 đến 16).

A)Tosa nikki (Thổ Tá Nhật Ký):

Ki no Tsurayuki

Được biết Tosa nikki do Kino Tsurayuki (Kỷ, Quán Chi, 868?-945?) viết và cho ra đời năm 935.Trong cuốn nhật ký nầy, Tsurayuki đã ghi chép chi tiết cuộc hành trình 55 ngày đường của mình từ Tosa (Thổ Tá, nay thuộc tỉnh Kochi, phía nam đảo Shikoku), nơi ông vừa thôi việc quận thú (trấn thủ = kami), về đến kinh đô. Nội dung nhật ký nhắc nhở nhiều về kỷ niệm về đứa con gái đã chết trong thời gian ở nhiệm sở, nỗi lo lắng về cuộc hành trình đường thủy đầy sóng gió và cướp bóc cũng như niềm vui và hy vọng lúc hồi kinh.

Chúng tôi từ giả chỗ đỗ lại tối hôm trước để đi tiếp đến một bến khác. Trông thấy núi hiện ra ở đằng xa. Một đứa bé lên chín, mặt còn trẻ hơn tuổi của nó, bảo rằng nó có cảm tưởng núi đang chạy theo thuyền. Mọi người còn ngạc nhiên hơn vì nhân đó nó có làm một bài thơ:

Thuyền trôi, nhìn cảnh núi đồi,
Hỏi tùng có biết núi trôi theo thuyền?

Bài thơ thật hợp với một cậu bé.

Hôm đó biển động, tuyết rơi trên những mỏm đá ven bờ và sóng vỡ ra như hoa. Có người nào đấy vịnh như thế này:

Tai nghe sóng đánh gần xa,
Mắt nhìn ngỡ tuyết hay hoa trắng trời.

(Trích Tosa nikki, Ngày thứ 22)

Tác giả đã giả thác tâm sự vào một nhân vật nữ để viết cho nên sử dụng được lối hành văn mà thời ấy mệnh danh là “lối viết đàn bà” (onnade = nữ thủ) nghĩa là tự do, uyển chuyển, sắc sảo, biết đùa cợt, lại hay châm biếm. Có thể nói là, lần đầu tiên, nhờ có văn chương quốc âm kana mà văn nhân thời đó đã có phương tiện để mô tả và phê phán xã hội đương thời cũng như trình bày dễ dàng hơn những chi tiết cuộc sống nội tâm của chính mình.

Thực ra chữ onnade (nữ thủ) là để gọi loại văn tự hiragana tức bình-giả danh (văn tự biểu âm bắt nguồn từ chữ Hán viết theo lối thảo) của Nhật. Hiragana được xem như dành cho các bà để họ làm thơ waka hay viết thư (thời đó thư tín gọi là tiêu tức[1]) và ngay cả khi viết truyện hoặc nhật ký.Trong khi đó, chữ Hán (Kanji) được gọi là mana (chân danh) là chữ viết của đàn ông và mang tên là onokode (nam thủ).Tuy nhiên từ đời Nara bước qua thời Hei-an, có một sự chuyển hướng: onokode đã nhường bước cho onnade nghĩa là Giả lấn lướt Chân, dòng văn học phụ nữ bị coi thường kia lần lần đã chiếm ưu thế.

Đầu thời Hei-an, đã có man.yôgana (Vạn Diệp-giả danh) hay magana (chân-giả danh) tức là lối biểu hiện âm tiết Nhật qua chữ Hán viết theo lối Hài và Hành nghĩa là không giản lược. Thế rồi văn tự sôgana (thảo-giả danh) ra đời và đúng như tên của nó, bắt nguồn từ lối viết thảo với khuynh hướng giản lược hóa. Dưới triều Hei-an thì magana lại trở thành onokode (nam thủ). Khi viết magana nhanh tay thì tốc độ viết làm cho chữ tháu đi và biến dạng thành sôgana, hình thái thay đổi đến độ không còn nhận ra mặt chữ xưa (chân tướng). Đó là onnade vậy.

Đặc điểm của Tosa nikki là trong đó có ghi lại 57 bài waka và nội dung của nikki có liên quan đến cuộc sống riêng tư của tác giả, đó là một điều mới mẻ. Tuy nội dung của nó không phong phú bằng Nittô guhô junrei kôki (Nhập Đường cầu pháp tuần lễ hành kí) của tăng Ennin (Viên Nhân tức Jikaku Daishi, Từ Giác Đại Sư) viết trước đó hơn một thế kỷ cũng như một trăm bài thơ bày tỏ tâm sự mình (trong Tự Ý Nhất Bách Vận ) của Sugawara no Michizane. Tuy nhiên, chủ ý của Ki no Tsurayuki không phải là sự quan sát ngoại giới hay trầm tư suy gẫm như hai người đi trước đó, nhưng đúng ra để trình bày biến chuyển tâm lý, tình cảm của mình. Như khi về đến ngôi nhà cũ ở Kyôto nay đã tan hoang, ông viết :

“ Lòng của người giữ nhà cho ta chắc cũng đến điêu tàn như ngôi nhà. Chỉ có năm sáu năm trôi qua từ ngày ta đi vắng mà tưởng đã mấy trăm năm.Trong ta tràn ngập bao mối cảm hoài và ta nghĩ về đứa con gái của ta đã sinh ra trong ngôi nhà. Ta không biết nói sao hơn để tỏ lòng thương tiếc nó đã không còn để về đây với ta lần nầy ”.

Vai trò của Tosa nikki rất quan trọng vì, tuy do một người đàn ông viết ra, nó đã mở đường cho một dòng văn học quan trọng của Nhật Bản : văn học nữ lưu (joryuu bungaku), gồm nhật ký (sẽ đi vào chi tiết sau) như Kagerô nikki, Izumi Shikibu nikki, Murasaki Shikibu nikkiSarashina nikki và tùy bút mà điển hình là Makura sôshi.

B)Kagerô nikki(Tinh Đình nhật ký)[2] :

Sách gồm ba quyển thượng, trung, hạ , do bà mẹ (không rõ tên) của hữu đại tướng Fujiwara no Michitsuna (Đằng Nguyên, Đạo Cương) trước tác, ra đời năm 974.Người ta chỉ biết tác giả là một trong 36 ca tiên và mất khoảng năm 995 mà thôi. Bà là con gái của Fujiwara Tomoyasu (Đằng Nguyên Luân Ninh) và là dì của tác giả Sarashina nikki (sẽ nói đến trong những trang sau) tức con gái (cũng không rõ tên) của Fujiwara Takasue (Đằng Nguyên Hiếu Tiêu).Trong nhật ký có ghi chép sự việc từ lúc bà được Fujiwara Kane-ie [3] (Đằng Nguyên Kiêm Gia) cầu hôn (954) năm 19 tuổi cho đến năm 40 tuổi (974) nghĩa là hai mươi mốt năm của cuộc sống vợ chồng. Tác giả sinh trong một gia đình quan suryô (thủ lĩnh) tức giai cấp tiểu quí tộc địa phương nhưng nhờ duyên phận được lọt vào gia đình đại quí tộc. Bà là vợ hai, sinh được người con trai là Michitsuna (Đạo Cương), thành thứ mẫu của quyền thần Michinaga (Đạo Trường) và hoàng hậu Senshi (Thuyên Tử), có hai cháu gái gọi bằng bà về sau cũng làm hoàng hậu (tức Teishi và Shôshi đã nhắc đến ở trên). Tuy nhiên, điều bà ghi lại trong nhật ký là chuỗi ngày không được đầm ấm với chồng cho đến khi trông cậy được vào con trai mình.

Thuở xưa, dưới chế độ đa thê[4], vì là người có lòng tự hào nên sau khi thất bại trong việc giữ tình yêu của chồng mà đối với bà chỉ là cái bóng chập chờn (kage), bà trở thành cay đắng và đau khổ.Tác phẩm trình bày được tâm trạng buồn thương, u ẩn đó.

Trong tựa sách, bà phê bình tính cách bịa đặt vô nghĩa (soragoto = không ngôn, hư sự) của thể loại truyện monogatari và chủ trương viết là phải đi từ những kinh nghiệm cá nhân có thực. Tuy bà trình bày nỗi bất hạnh (ghen tuông, lo lắng, tuyệt vọng) trong cuộc sống vợ chồng nhưng bà cũng muốn làm sáng tỏ để mọi người rõ nguyên nhân của nỗi bất hạnh đó là gì và cho biết nguồn hạnh phúc gia đình không phải đến từ mỗi ông chồng là Kane-ie. Phần đầu tập nhật ký là văn vần (quyển thượng, 15 năm đầu), đặt trọng tâm qua trao đổi thơ xướng họa, nhưng dần dần khi chủ đề tác giả đặt ra đã được khai thác sâu xa hơn thì nó ngã hẳn qua hình thức văn xuôi (quyển trung và hạ, những năm còn lại).

Kagerô khai triển được bút pháp của Tosa trong lãnh vực văn chương quốc âm và như thế làm đồi dào thêm khả năng phân tích tâm lý bên trong, đã ảnh hưởng nhiều đến Genji về sau.

C)Izumi Shikibu nikki(Hòa Tuyền Thức Bộ nhật ký) :

Tác phẩm xuất hiện năm 1007, nhiều thuyết cho là bà Izumi Shikibu (Hòa Tuyền, Thức Bộ, sinh khoảng 978 – chết sau 1033) viết. Ta đã biết bà là thi nhân waka nổi tiếng, con gái của Ôe no Masamune (Đại Giang, Nhã Chí), một nhà thơ lớn, mẹ của nữ sĩ Koshikibu (Tiểu Thức Bộ), cũng là một nhà thơ. Bà lấy chồng hai lần. Trước là Tachibana no Michisada (Quất, Đạo Trinh, năm 996), sau là Fujiwara no Yasumasa (Đằng Nguyên, Bảo Xương, 1010). Ngoài ra, giữa hai cuộc hôn nhân, bà có cuộc đời tình ái sóng gió với nhiều người đàn ông. Tập Izumi Shikibu nikkichép lại thời gian 10 tháng trời (năm 1003) của cuộc tình duyên giữa bà và một trong những người yêu, hoàng tử (thân vương) Sochi-no-Miya Atsumichi (Súy Cung Đôn Đạo, 977-1007), dưới hình thức truyện. Nhật ký vẽ ra được quang cảnh thế giới tình ái thơ mộng của hai người xoay quanh trên 140 bài thơ tặng đáp. Sở dĩ có người nghi ngờ chưa chắc bà viết là vì thắc mắc tại sao nhân vật chính lại xuất hiện với ngôi thứ ba. Kẻ phản luận bảo rằng đó là chủ ý của tác giả muốn dấu danh tánh.

Cuộc đời của Izumi Shikibu cũng tự phát, đầy cá tính, lãng mạn và nồng nhiệt như thơ văn của bà. Bà bỏ mặc khuôn phép, thành kiến của xã hội, có nhiều hành vi làm người đương thời không chấp nhận nổi, đánh giá bà là một kẻ say đắm ái tình. Thơ của bà còn giữ được khoảng 1470 bài tanka trong hai tập thơ (tuy có nhiều bài in trùng nhau) và từ đó 247 bài đã được đăng trong các tuyển tập soạn theo sắc chiếu làm bà trở thành nhà thơ phụ nữ được nhắc đến nhiều nhất. Lối sống và phong cách làm thơ của bà đã ảnh hưởng nhiều đến Yosano Akiko (Dữ Tạ Dã, Tinh Tử. 1878-1942), một nhà thơ nữ hàng đầu của thi ca hiện đại, người đã đặt lại vị trí bà như một phụ nữ đã được giải phóng.

D)Murasaki Shikibu nikki(Tử Thức Bộ nhật ký) :

Murasaki Shikibu hoàn thành tác phẩm này vào năm 1010. Bà là nữ quan hầu cận hoàng hậu Shôshi (Chương Tử) nên ghi chép tách bạch được chi tiết của đời sống xa hoa, lộng lẫy của cung đình.Từ quang cảnh hoàng hậu lâm bồn cho đến mọi nghi thức và lễ lạc trong cung, bà đều mô tả rõ ràng. Bên cạnh đó và không đồng hóa với nó là cuộc sống nội tâm của mình mà bà cũng đã trình bày một cách sâu sắc và bén nhạy. Phần cuối của tập nhật ký là “ thư tín ” (tiêu tức văn = shosokubumi) trong đó bà bày tỏ ý kiến về các nữ quan và văn nhân đương thời ( Sei Shônagon, Izumi Shikibu, Akazome-Emon…) cũng như tâm sự về những điều tự phê khá nghiêm khắc đối với bản thân :

Về Izumi Shikibu, bà phát biểu : “ Có tài về văn chương thư tín và thơ waka, gây được cảm tưởng như viết lách nhẹ nhàng và làm thơ dễ như ứng khẩu. Tuy nhiên sự hiểu biết và lý luận về thơ thì đáng ngờ, không phải là một nhà thơ đáng cho ta phải để ý ”.

Bà có vẽ nhẹ tay với Akazome emon : “ Tuy không phải là một nhà thơ xuất sắc đặc biệt nhưng thơ ý vị sâu sắc, bài nào đọc lên mình cũng cảm thấy thẹn vì thua kém ”.   

Còn đối với Sei Shônagon, bà nặng nề hơn : “ Thật tình người nầy hay làm cao, ra vẻ ta đây. Thông minh, viết đầy chữ Hán ra đấy nhưng nhiều chỗ vẫn chưa đạt. Tưởng như trội hơn người nhưng lại để lộ ra sự yếu kém. Muốn đi tìm cái phong lưu nhưng thành ra khinh bạc ”.

Lý do của sự khe khắt nầy có lẽ là hai người hầu hai bà chủ trong tư thế đối lập với nhau chăng ?

E)Sarashina nikki(Cánh Cấp nhật ký) :

Bà Sugawarano Takasueno Musume thăm chùa Ishiyama.

Do bà SugawaranoTakasueno Musume viết vào khoảng năm 1060. Không rõ tên tác giả, chỉ biết bà là “con gái nhà Sugawara -no-Takasue (Quản Nguyên, Hiếu Tiêu)” và sinh khoảng năm 1008. Dòng dõi Sugawara rất giỏi văn chương học vấn. Mẹ bà là con gái Fujiwara no Tomoyasu, cho nên gọi tác giả Kagerô nikki bằng dì. Bà kết hôn với Tachibana Toshimichi (Quất, Tuấn Thông) nhưng chồng chết, sống một tuổi già góa bụa.

Sarashina (nhật ký lấy Sarashina tức vùng núi non thuộc tỉnh Nagano, phía bắc Tokyo bây giờ, làm bối cảnh. Có thể vì Toshimichi,chồng bà, từng làm chức quận thú (kami) ở Shinano (Tín Nùng) tức chung quanh vùng nầy) bắt đầu kể về thế giới thơ mộng của vùng Kazusa (Thượng Tổng, một phần của Chiba bây giờ) ở miền Đông, thuở ấy rất hoang vu, nơi bà sống với cha suốt thời thơ ấu (trước năm 1020, lúc 13 tuổi). Sau đó là những hiện thực phủ phàng lúc lớn lên (chồng chết năm 1058) và tuổi già đi tìm an ủi trong lòng tin tôn giáo.Nội dung nhật ký lồng trong một khoảng thời gian dài ước chừng 40 năm và mô tả nhiều về thế giới thấy được trong mộng mị. Tuy vẫn đề cập đến những chủ đề thường thấy trong các monogatari, đặc điểm của Sarashina là mô tả thành công tâm trạng buồn thương của cảnh cô độc góa bụa và bàn luận một cách thấm thía về cái bèo bọt vô nghĩa của kiếp người.

Người ta còn phỏng đoán bà còn là tác giả hai cuốn truyện Yoru no nezame “Tỉnh Giấc Nửa Đêm” và Hamamatsu Chuunagon Monogatari “Truyện quan Chuunagon Hamamatsu”.

F) Các nhật ký khác:

Ngoài những nikki nói đến ở trên, có thể kể thêm Jôjin Ạjari-no-haha-no-shuu (Thành Tầm A-Xà-Lê Mẫu tập, 1073) cảnh của bà mẹ của nhà sư Jôjin (Thành Tầm) kể lể nỗi khổ khi đưa chân con lên đường qua Trung Quốc hành hương các di tích của Phật Giáo. Trong tập nầy, mọi tâm trạng của người mẹ đối với con đã được miêu tả tường tận. Cũng như phải nói đến Sanuki-no-suke nikki[5] (Tán Kỳ Điển Thị nhật ký, 1108) của chức nữ quan hầu cận tên gọi Fujiwara Nagako (Đằng Nguyên, Trường Tử) viết, kể lại sự tình từ lúc thiên hoàng (thứ 73) Horikawa (Quật Hà, trị vì 1087-1107 ) phát bệnh, băng hà cho đến khi tân quân lên kế vị.Tác giả ghi chép tỉ mỉ về cái chết của thiên hoàng và sau khi vua mới là thiên hoàng (thứ 74) Toba (Điểu Vũ, trị vì 1107-1123) lên ngôi, vẫn hoài niệm về vua cũ. Đặc điểm của tập nhật ký nầy là mang chủ đề liên quan đến sự chết.

Theo Katô Shuuichi, qua các chi tiết vừa kể, ta có thể rút ra ba kết luận:

– Những tập nikki nầy được viết trong một khoảng thời gian 200 năm (giữa thế kỷ thứ 10 đến giữa thế kỷ 12) và hầu như do phụ nữ viết. Họ đều thuộc tầng lớp quí tộc bậc trung, con nhà quan lại trấn thủ địa phương.

– Các tác giả phụ nữ nầy hầu như đều có bà con xa gần với nhau và gia đình họ cũng có những cây bút phái nam, từng có tác phẩm viết bằng Hán hay Hòa văn.

– Những cây viết lỗi lạc nhất trong nhóm là các “nữ học sĩ có phòng riêng” (nyobô = nữ phòng”) trong cung. Việc gọi văn học nữ lưu thời Heian là văn học nữ quan (nyobô bungaku) thật ra rất chính xác.

Từ đó hãy thử trả lời câu hỏi, tại sao ở Nhật lại có một tầng lớp phụ nữ thành công trong lãnh vực văn học như vậy?

Trước tiên là họ sống trong một thế giới khép kín và không liên quan gì đến chính trị. Con nhà dòng dõi, họ có học vấn cao và điều kiện sinh sống thoải mái. Lớp quí tộc bậc trung còn chẳng có cách nào khác để tiến thân hay biểu lộ giá trị của mình trong một hệ thống thứ bậc chặt chẻ, nói chi đến phụ nữ. Các bà đành đi theo con đường văn chương. Vì không thể thay đổi xã hội cung đình, họ tìm cách quan sát và giải thích nó.

Hoàng hậu hay chính phi của đông cung thường có khoảng ba bốn mươi nữ quan thị tùng.Trong triều như thế phải có đến vài trăm người và tạo thành một nhóm người khá quen biết nhau.Họ vừa là tác giả vừa là độc giả của nhau. Họ có làm thơ, viết tiểu thuyết nhưng sở trường của họ là thể koại nikki (nhật ký) và zuihitsu, sôshi (tùy bút).

 II: TÙY BÚT THỜI HEIAN:

Phương pháp viết nhật ký đã được qui định qua Kagerô nghĩa là người viết phải tập trung để theo dõi những biến chuyển nội tâm của mình. Nhật ký nặng về ghi chép nên chỉ trình bày diễn biến ấy theo trình tự thời gian.

Tuy nhiên loại hình văn học mới vẫn giữ cái sắc bén và tinh tế trong quan sát khách quan nội tâm (khả năng tự soi mình = jishô hay tự chiếu) của nhật ký và còn nhấn mạnh và phát huy thêm khả năng nầy, được gọi là zuihitsu (tùy bút), nghĩa đen có nghĩa là “để ngòi bút tự nó dẫn lối đưa đường”.Tác phẩm tiêu biểu cho thể loại zuihitsu là Makura sôshi (Chẩm thảo tử) của bà Sei Shônagon, ra đời khoảng năm 1001.

A) Sei Shônagon[6](Thanh, Thiếu Nạp Ngôn, 966?-1024?):

Sei Shônagon vén rèm

Bà Sei là con gái của thi sĩ waka tên là Kiyohara Motosuke (Thanh Nguyên, Nguyên Phụ), một trong Lê Hồ Ngũ Nhân tức 5 người làm việc trong Viện Thi Ca (chung quanh có trồng cây lê). Tằng tổ phụ của bà, ông Kiyohara Fukayabu (Thanh Nguyên, Thâm Dưỡng Phụ), là thi nhân nổi tiếng thời Kokin Waka-shuu (905-914).Từ thuở nhỏ bà đã nằm lòng những tác phẩm cổ điển. Năm 993, thiên hoàng Ichijô (Nhất Điều) vời bà vào cung hầu cận hoàng hậu Chuuguu Teishi (Trung Cung Định Tử). Suốt 10 năm bên cạnh hoàng hậu, bà được hậu đãi nên phát huy được tài năng của mình. Sau khi hoàng hậu mất, bà từ chức.Trước bà đã kết hôn với Tachibana Norimitsu (Quất, Trắc Quang) năm 15 tuổi. Họ lấy nhau được 10 năm thì ly hôn. Sau khi rời hậu cung, bà thành vợ của Fujiwara Muneyo (Đằng Nguyên, Đống Thế) nhưng lại có thuyết cho rằng cuối đời bà xuất gia, sống cô độc.

Bà lớn hơn Murasaki Shikibu bốn tuổi và mất sau tác giả Truyện Genji 10 năm. Cuộc đời hai người như xen kẻ và có nhiều điểm giống nhau. Cả hai đều dòng dõi trâm anh và văn học, đều là nữ quan hầu cận hoàng hậu, đều là đại biểu xuất sắc của văn học Nhật Bản, một người về tùy bút, một người về truyện kể. Điểm khác nhau giữa họ là cái nhẹ nhàng bén nhọn nơi Sei Shônagon tương phản với cái sâu lắng thâm trầm của Murasaki Shikibu. Đặc sắc của bà Sei Shônagon là cách nhìn sự vật khách quan, nặng về lý tính để tìm thấy trong sự vật và con người cái “kỳ cục, buồn cười” (okashi) của nó, trong khi Murasaki Shikibu nhìn mọi sự với cái nhìn chủ quan, thiên về tình cảm để tìm ra cái “đáng yêu, đáng thương” (aware). Cái khác nữa là bà Sei trung thành với cánh nhà bác của họ Fujiwara, trong khi Murasaki là người của cánh nhà chú. Khi kẻ cầm đầu cánh nhà bác là tể tướng Michitaka (Đạo Long) mất, nhà bác thất thế, thì các con trai ông như Korechika (Y Chu), Taka-ie (Long Gia) bị tá thiên về địa phương (phủ Dazai ở Kyuushuu) và con gái, hoàng hậu Teishi (Định Tử) buồn cảnh bị chú áp bức, cắt tóc đi tu rồi chết lúc mới có 24 tuổi. Bà Sei giữ lòng trung với chủ nên từ chức và đi lấy chồng. Từ đó là giai đoạn hưng thịnh của cánh nhà chú với tân tể tướng Michinaga (Đạo Trường). Ông này cho con gái là Shôshi (Chương Tử) nhập cung. Bà Murasaki được vời vào hầu hoàng hậu mới. Ta đã thấy trong nhật ký của mình, (Murasaki Shikibu nikki), bà đã có những lời phê bình rất nặng nề đối với bà Sei mà bà cho là người “ngạo mạn” , “khinh bạc”và “làm dáng” v.v…

Ngoài Makura no Sôshi, bà Sei còn để lại thi tập Sei Shônagon Shuu (Thanh Thiếu Nạp Ngôn Tập).

B) Makura no sôshi(Chẩm thảo tử):

Theo một tiết trong bài bạt, nhờ có hoàng hậu Teishi ban cho giấy (sôshi = thảo tử) để dùng, Sei Shônagon nhân đó mới viết tác phẩm Makura no sôshi. Chẩm (Makura) là cái gối dùng gối đầu, ý nói quan trọng và gần gũi bên mình. Thuyết khác lại xem cái gối (rỗng) là chỗ để chứa giấy để viết.Có thể hiểu bà viết sách nầy không phải với tư cách cá nhân mà với tư cách công của một nữ quan. Tùy bút nầy không ghi chép gì về chuyện xảy ra sau khi hoàng hậu Teishi mất nên có thể xem như đã viết xong trước năm 1001. Dầu vậy với một đôi chỗ bổ túc và sửa đổi, sách chỉ thực sự hoàn thành khoảng cuối năm 1004.

Cách viết Makura no sôshi rất tự do, đề tài có thể là mọi thứ từ kinh nghiệm, điều nghe thấy, cảm tưởng về cuộc sống chung quanh.Dài ngắn có tất cả 300 đoạn và trong đoạn nào cũng in dấu ấn những cảm xúc về thẩm mỹ rất nhạy bén của tác giả. Có thể phân loại nội dung các chương đó như sau:

-Trước hết là các đoạn có tính cách nhật ký, hồi tưởng, ghi chép các điều nghe thấy trong cung chung quanh cuộc sống đài các và tao nhã của hoàng hậu Teishi, một người đẹp và thông minh toàn hảo. Tiêu biểu có đoạn mang tên Okinamaro (Ông Hoàn = Ông Lão) và Kôrohô-no-Yuki (Hương Lô Phong Tuyết = Tuyết trên đỉnh Hương Lô). Xin trích dịch đoạn nói về ngắm tuyết như sau:

Tuyết rơi hết sức nhiều và ngập dày nên khác ngày thường, bọn cung nhân chúng tôi cứ để sập liếp cửa, châm lò than xong định tụ tập trò chuyện hầu hoàng hậu.Nhưng hôm đó nương nương lại gọi tôi “Nầy Shônagon, thế chứ tuyết trên ngọn Hương Lô ra sao nhỉ?”. Thấy tôi nâng liếp cửa và cuốn cao bức rèm lên, ngài bèn nhoẻn miệng cười. (Tuyết trên đỉnh Hương Lô)

Ở vùng tây nam Cửu Giang tỉnh Giang Tây bên Trung Quốc có dãy núi tên Lô Sơn, trong đó có ngọn Giáp Lô Sơn có hình thù giống như cái lò hương (hương lô) nên gọi là Hương Lô Phong (Kôrohô theo cách đọc của Nhật). Thi nhân đời Đường Bạch Cư Dị (772-846) có câu thơ rất nổi tiếng “ Hương Lô Phong tuyết bát liêm khan”(Vén rèm ngắm tuyết ngọn Hương Lô), có ghi lại trong tuyển tập thơ văn Bạch Thị Trường Khánh Tập do bạn ông là Nguyên Chẩn biên soạn vào năm 824. Văn tập nầy rất phổ biến ở Nhật, nhân vật triều Heian rất yêu chuộng, gọi gọn lại là Văn Tập hay Tập. Câu chuyện của bà Sei viết như trên mới đọc thì có vẻ tầm thường nhưng nếu có kiến thức cổ điển Trung Hoa mới thấy hai thầy trò Sei Shônagon có văn hóa cao, phong cách tao nhã và rất tâm đầu ý hợp vì không cần nói nhiều cũng hiểu nhau.

-Thứ đến các đoạn có tính cách “loại tụ” (ruijuu = họp thành một loại) nghĩa là nói về những cái giống nhau (monozukushi) của từng sự vật (núi, sông…) và những tình cảm mà sự vật ấy có thể gợi ra cho ta.Có thể sử dụng nó để làm mào đầu[7] (makura) để tựa vào đó mà đặt thơ gieo vần.Tác giả đã có khả năng liên tưởng ngôn ngữ dựa trên những nhận xét tinh tế và nhạy bén.

Những cái ít khi thấy là bố vợ khen chàng rễ, con dâu được mẹ chồng thương, cái nhíp bạc nhổ đúng ngay sợi tóc, tớ không nói xấu chủ. Cũng như khó kiếm ra người không có lấy một thói hư tật xấu, từ mặt mũi, tính tình đến phong cách đều tuyệt vời, tiếp xúc thường xuyên với người đời mà không để ai chê bai được điều gì… (Những Điều Hiếm Có)[8]

Một người khách đến chơi lúc ta đang vội mà còn kể lể dông dài. Nếu là kẻ đối xử tệ được thì ta đã có thể bảo “Thôi, để lúc khác!” và tống khứ anh ta. Nhưng nhỡ là kẻ mình phải giữ lễ thì họ đặt ta vào một hoàn cảnh khó tiến thoái, thật bực.

Một sợi tóc rớt trong nghiên hay hạt cát dính vào thỏi mực kêu ken két lúc ta mài…Khi ta đang muốn lắng nghe chuyện bỗng có đứa bé chợt khóc thét. Một đàn quạ bay tán loạn tứ phương, kêu inh tai. Con chó nhè người ban đêm lén tìm đến thăm ta mà sủa nhặng lên. Một giết phức nó được! (Những Điều Đáng Ghét) .

-Cuối cùng là các đoạn có tính cách tùy bút nói đến những tình cảm tự phát bộc lộ trước thiên nhiên và con người. Nó là một phân nhánh của các đoạn nói về loại tụ. Ví dụ đoạn nói về buổi bình minh mùa xuân (Haru no akebono) chẳng hạn.

Mùa xuân đẹp lúc hừng đông. Bầu trời ven nếp núi nhờ nhờ rạng ra rồi làn mây ánh màu tím nhạt trải dài trông thật tuyệt.

Mùa hè đẹp vào ban đêm. Lúc trăng ló dạng càng đẹp. Dù trời tối mịt nhưng nếu đom đóm bay qua bay lại, cả bầy hay dầu chỉ một đôi con, chớp chớp cũng đủ thích. Có tí mưa lại đậm đà hơn.

Thu đẹp lúc chiều về. Mặt trời vừa gác núi, quạ từng đàn hai ba chiếc, ba bốn chiếc, gấp rút như muốn về chỗ ngủ, trông thật nên thơ. Hơn thế, nếu có ngỗng trời giăng hàng bay nhỏ dần về phía xa, nhìn theo càng thương cảm. Lúc vầng dương khuất hẳn giữa tiếng gió và tiếng côn trùng, thì không cảnh nào hơn

Đông đẹp nhất ban sáng. Cảnh tuyết rơi tụ lại thì đành rồi nhưng nếu chỉ có sương rơi trắng xóa cũng đáng yêu. Dù không được một buổi mai như thế nhưng nếu trời thật lạnh, nội nhìn cái dáng lăng xăng chuyển than để nhóm lửa sưởi cũng nhắc cho ta đang ở giữa mùa đông. Đến trưa khi cái lạnh dần dần dịu đi, lửa trong lò đã thành tro, mới cảm thấy đơn chiếc. (Bình minh mùa xuân)

Những cuộc hò hẹn bí mật giữa trai gái đặc biệt thú vị vào mùa hè. Hai người yêu nhau chưa kịp chợp mắt thì đêm đã sáng tự hồi nào. Màn cửa kéo lên cả và khu vườn trông mát rượi. Khi hai người vừa trao đổi mấy câu cần thiết cuối cùng thì một con quạ bỗng bay qua trước mắt họ và rêu rõ to. Buồn cười nhất là họ có cảm tưởng đang bị ai bắt gặp. (Đoạn 74)

Như đã trình bày, tùy bút của bà Sei tập trung vào thế giới hậu cung thiên hoàng chung quanh hoàng hậu Teishi. Văn thể giản dị, hành văn ngắn gọn, đa dạng, tự do, nhận xét tinh tế… là những ưu điểm của nó. Bà trình bày rất sống động cảnh quan tể tướng bố của hoàng hậu xuất hiện cùng đoàn tùy tùng, thương cảm cho con chó bị đuổi khỏi cung vì dám tấn công con mèo của thiên hoàng, miêu tả chi tiết màu sắc áo xống các vương tôn tiểu thư mặc trên người, phê bình khiếu thẫm mỹ của họ thế nào…Tuy nhiên vì chuyên chú vào việc ca ngợi cuộc sống vinh hoa, đài các nên thành ra chỉ nhận xét sự vật qua cái vỏ bên ngoài, thiếu sâu sắc nội tâm lẫn tinh thần phê phán.

 III: NHẬT KÝ (NIKKI) THỜI KAMAKURA :

Văn hoá vương triều điển hình là văn hoá Heian quá xán lạn cho nên tuy có điểm yếu là vì thế mà quyền lực chính trị bị tê liệt, nó vẫn còn được sự ngưỡng mộ của người đời sau dù khi chính trị vũ gia đã bén rễ khá sâu. Do đó, có nhiều tác phẩm của người đương thời mang chủ đề tâm tình hoài vọng quá khứ vàng son ấy. Cùng lúc, Kamakura đã trở thành thủ đô chính trị làm cho sự giao lưu giữa Kyôto và Kamakura bằng con đường Tôkaidô (Đông Hải Đạo), trục giao thông chính ven biển, trở nên tấp nập. Hai loại văn nikki (nhật ký) và kikô (kỷ hành) hay ghi chép lúc đi đường, nhờ đó mới có thêm tư liệu phong phú để trở thành một dòng văn học đặc sắc.

A) Nhật Ký Hồi Tưởng:

Trong các tác phẩm thuộc loại nikki hồi tưởng lại cuộc sống cung đình có Kenreimon-in Ukyônodaibu-shuu (Kiến Lễ Môn Viện Hữu Kinh Đại Phu tập) được xem như hoàn thành năm 1233. Tác giả Kenreimon-in Ukyônodaibu không phải là tên người nhưng chỉ là một chức nữ quan trong cung hầu cận bà Kenreimon-in tức bà cựu hoàng hậu Taira Tokushi (Bình, Đức Tử) mà cả gia đình Taira của bà đã chết thảm trong trận thủy chiến ở Dan no Ura. Bà Ukyôdaibu (gọi theo chức của cha ?) sinh giữa khoảng Heian-Kamakura và là một thi nhân waka.. Con gái của Fujiwara no Koreyuki (Đằng Nguyên, Y Hành), bà vào cung hầu cận hoàng hậu Tokushi của thiên hoàng (thứ 80) Takakura (Cao Thương, trị vì 1168-1180). Bà có thơ trong các tập waka soạn theo sắc chiếu.

Sau khi vào cung hầu cận hoàng hậu ít lâu, bà dan díu với hai người đàn ông : Fujiwara Takanobu (Đằng Nguyên, Long Tín) và Taira Sukemori (Bình, Tư Thịnh). Với Takanobu bà không hợp nên chẳng mấy lúc phải chia tay, còn Sukemori đã cùng cả nhà Taira phải bỏ kinh đô tháo chạy và rốt cục tiêu vong ở Dan no Ura. Bà còn mỗi một mình trơ trọi, suốt nữa đời còn lại thương tiếc cái chết của Sukemori. Tác phẩm của bà chứa chan tình cảm vì bà diễn tả những đau thương thống thiết của thân phận đàn bà bị thần chiến tranh đem ra làm trò đùa :

Bọn vũ sĩ (quân Minamoto) hung hãn từ miền tây ùn ùn đổ tới.Tin người ta đồn đại nhiều không xiết kể, chẳng biết loại tin tức gì sẽ lọt vào tai mình lúc nào.Khóc ngất rồi lại ngủ vùi, trong mộng lúc nào cũng thấy con người ấy (Sukemori) hiện ra trong mảnh áo đơn, đứng giữa chỗ gió thổi ào ào với dáng trầm ngâm. Khi giật mình tỉnh giấc, ruột gan rối bời, sống với một tâm trạng khó mà diễn tả. Giờ đây lòng hãy canh cánh không biết người ấy còn đang ở trong tình cảnh tương tự hay không ?…Biết đâu chàng vẫn vật vờ trong sóng to gió lớn, tâm hồn chưa tìm được bình an! 

B) Những tác phẩm nhật ký và văn chương du hành khác

Về tác phẩm thuộc hai loại nói trên, vào thời này còn phải kể đến Tamakiharu [9] (không có tựa chữ Hán, tạm dịch là Một đời tận tụy) và Heike Kindachi Zôshi [10] (Bình gia công đạt thảo tử) nói về các công khanh Heike, thuộc dòng văn chương hồi tưởng triều đại cũ của họ Taira. Ngoài ra, Minamoto no Ienaga nikki [11] ( Nguyên, Gia Trường nhật ký) trong đó Minamoto no Ienaga ghi chép lại quá trình biên soạn thi tập Shin Kokin Shuu (Tân Cổ Kim Tập) cũng là một tác phẩm quan trọng. Ben no Naishi nikki [12] (Biện Nội Thị nhật ký), Nakatsukasa no Naishi nikki (Trung Vụ Nội Thị nhật ký) [13]điển hình cho loại nhật ký ghi chép lại những ngày tháng hầu cận trong cung (nội thị) của các chức quan nội thị này. Thế nhưng Izayoi Nikki (Thập Lục Dạ Nhật Ký) tức Nhật ký đêm mười sáu và Towazugatari (không có tên chữ Hán, ý nói không hỏi cũng xin thưa) mới là những tác phẩm đáng lưu ý vì có phần văn du ký[14] (kikô) chen vào.

Đầu thời Kamakura, có Kaidôki (Hải đạo ký) và Tôkan Kikô (Đông Quan kỷ hành) hai tác phẩm viết về phong cảnh và sự tình trong những cuộc lữ hành trên con đường Tôkaidô (Đông Hải Đạo). Vì sử dụng thể văn Hòa Hán hỗn hợp một cách khéo léo trôi chảy, chúng là hai tác phẩm điển hình cho văn học du ký và ảnh hưởng sâu đậm đến các tác phẩm về sau trong đó có Truyện Heike.

Kaidôki không rõ ai viết nhưng được phỏng định ra đời vào khoảng năm 1223. Tác giả là người về già đi xuất gia, ghi chép lại cuộc hành trình của mình từ Kyôto đến Kamakura. Nội dung gồm lý do của chuyến đi, tâm tình lúc đi đường và những suy tư về đạo Phật đã đào sâu thêm qua chuyến đi. Tôkan kikô cũng nói về một cuộc hành trình tương tự và những điều nghe thấy của người viết lúc lưu trú ở Kamakura, cũng không biết do ai viết, phỏng đoán vào khoảng năm 1242.

Văn chương du hành đã được thấy rất sớm. Một phần tư thơ trong Manyô-shuu đã nói về những gì xảy ra trong lúc đi đường. Các tác phẩm du ký thời Trung Cổ thường được soạn ra bởi các tác giả nam nữ muốn lánh đời (yosute-bito) và chịu ảnh hưởng của Phật Giáo nên hay nói đến lẽ đời vô thường. No còn chen lẫn trong các hình thức văn chương khác như nikki, truyện và thơ. Izayoi nikki, của Abutsuni (1228-1283) và Towazu-gatari của nữ tu Nijô (1258-1306) là những ví dụ cụ thể. Ngay cả Sanka-shuu (Sơn gia tập) của tăng Saigyô, tuy là một tập thơ nhưng cũng có màu sắc đậm đà của văn chương du ký vì nhắc nhiều đến các uta-makura (gối thơ) tức phong cảnh đẹp hay lịch sử gợi hứng cho thơ mà ông đã bắt gặp trên đường đi.

B)Izayoi Nikki (Thập Lục Dạ Nhật Ký) và Towazu-gatari (Không Hỏi Cũng Thưa) :

Abutsuni

Izayoi nikki là nhật ký do bà Abutsuni (A Phật Ni, 1222 ?-1283 ?) trước tác. Bà là vợ sau của Fujiwara Tameie (Đằng Nguyên, Vi Gia) nghĩa là con dâu của Teika (Định Gia, Sadaie). Sau khi ông Tame-ie mất, con vợ trước là Tame-uji (Vi Thị, họ Nijô) và con trai bà là Tamesuke (Vi Tướng, họ Reizei) tranh giành việc thừa kế ruộng nương của cha nên bà phải lên Kamakura lo chuyện tố tụng. Nhật ký phân trần về sự việc xảy ra trong lúc nầy. Abutsuni là nhà thơ nữ có tiếng giữa thời Kamakura. Ngoài nhật ký, bà còn lưu lại thơ waka, ký sự du hành Utatane (Giấc thiu thiu) và tập bình luận về thơ Yo no Tsuru (Dạ Hạc hay Hạc Đêm).

Đường lên núi Utsu (Utsuyama)

Trong khi đang hết sức lo lắng và bồn chồn trông đợi tin tức từ kinh đô thì một người thân tín đã mang về cho tôi những vần thơ trả lời cho các bài thơ mà tôi đã nhờ một nhà sư vân du gặp trên núi Utsu chuyển đi.

Núi Utsu mưa chẳng ngừng,
Trời không ngớt giọt vì lòng còn chưa,
Áo người đi đẫm lệ mưa.

Nhìn trăng mười sáu vật vờ,
Nhắc ta người ấy bây giờ còn đi
Mịt mù về chốn nào đây !

(Trích Izayoi nikki)

Người viết Towazugatari, tác phẩm có thể đã ra đời trước năm 1313 nhưng một bản sao hồi thế kỷ 17 mới đựợc khám phá ra năm 1940 trong nhà kho của hoàng gia, là con gái của Koga Masatada (Cữu Ngã, Nhã Trung). Bà có tên hiệu là Go-Fukakusa-in Nijô (Hậu Thâm Thảo Viện Nhị Điều, 1258- ?). Năm mới 14 bà đã được thiên hoàng (thứ 89) Go-Fukakusa (1243-1304) yêu dấu nhưng vẫn tiếp tục đi lại thường xuyên với các nhà quí tộc như Saionji Sanekane (Tây Viên Tự, Thực Kiêm, 1249-1322), hoàng tử Shôjohô shinno (Tính Trợ Pháp thân vương), Kameyama-in (Qui Sơn Viện, 1249-1305). Trong Towazugatari, bà kể lại một cách không che đậy về những mối liên hệ phòng the đó. Tuy nhiên, vì ngưỡng mộ cao tăng và văn gia Saigyô (Tây Hành) nên về sau bà bỏ đi tu, du lịch nhiều nơi danh thắng như Kamakura (Liêm Thương), Itsukujima (Nghiêm Đảo). Đặc điểm của văn chương bà là đã viết về những ngày tháng yêu đương thời trẻ một cách thành thực như bộc bạch (như thể không hỏi cũng khai ra) và miêu tả bước đường du lịch trong phần đời tu hành về sau.

Xin trích dịch một đoạn văn nhỏ trong quyển thứ 2 của Towazugatari :

Ngài (Hoàng tử Shôjohô) bước vào phòng đột ngột quá. Đang tự hỏi, chết chưa, làm thế nào bây giờ, thì đã nghe ngài nói : ”Nhờ sức Phật Tổ, mới gặp được nàng đây. Bây giờ ta có bị đọa xuống địa ngục cũng cam! ”. Rồi ngài vừa khóc vừa ôm chầm lấy tôi. Bụng nghĩ người gì mà đường đột thế nầy nhưng ngài là bậc tôn quí, không thể lớn tiếng trách sao lại như thế, tôi mới thầm thì thưa: “ Phật trong lòng ngài đáng sợ quá đi thôi! ”. Nói thế mà ngài chẳng chịu buông tha cho.Giữa khi còn đang nửa mê nửa tỉnh vì sự việc xảy ra thì tăng nhân tháp tùng ngài chợt đến báo “ Đã hết giờ rồi! ”, ngài bèn lẻn ra cửa sau biến mất. Trước đó không quên nhắn thêm : “ Khuya nầy, chắc chắn ta còn đến thăm nàng lần nữa đấy!…. ”.

IV : TÙY BÚT THỜI KAMAKURA :

A) Tùy Bút và Pháp Ngữ:

Trong một thời nhiễu nhương và thiên tai, lòng con người có mang nỗi bất an, bất mãn và phiền trách là chuyện cũng dễ hiểu.Một trong những phản ứng là bỏ đi tu để xa lánh hiện thực của cuộc đời.Họ trở thành những người đi ở ẩn, kết cỏ dựng am trong núi sâu hoặc lang thang du hành từ vùng[15] nầy qua vùng khác. Họ xem cuộc đời nầy là vô thường, dốc lòng tu học đạo Phật và để lại những tác phẩm văn học nói lên chí hướng và kinh nghiệm bản thân. Đó là dòng văn học ẩn sĩ mà người Nhật gọi là inja bungaku (ẩn giả văn học). Trước đó đã có Saigyô (Tây Hành, 1118-1190), Shun-e (Tuấn Huệ, thầy của Kamo Chômei) , Ton-A (Đốn A, 1289-1372) là những văn nhân ẩn sĩ có tiếng. Đại biểu ưu tú nhất của lớp người nầy vào đầu thời Kamakura là Kamo no Chômei (Áp, Trường Minh) với Hôjôki (Phương trượng ký) và Kenkô (Kiêm Hảo) với Tsurezuregusa (Đồ nhiên thảo). Các văn nhân ấn sĩ xa rời thế tục, sống độc lập nên thi ca và văn chương của họ cũng có phong vị u nhàn tịch mịch. Dòng văn học ẩn sĩ (inja bungaku) là điểm đặc thù của thời trung cận đại, trong khi dòng văn học mệnh phụ (nyobô bungaku) là đặc điểm của thời trung cổ và văn học người kẻ chợ (chônin bungaku) đại diện được cho thời cận đại.

Ngoài thể loại tùy bút, các bài giảng của cao tăng khuyên người “lánh đời ô trọc, vui tìm cõi phúc ” (yếm ly uế thổ, hân cầu tĩnh thổ) với lối hành văn giản dị, dễ hiểu nhưng có sức kêu gọi mạnh cũng là đối tượng của nghiên cứu văn học. Loại văn nầy gọi là hôgo (pháp ngữ) có thể viết bằng chữ Hán hay Kana.

B) Hôjôki(Phương trượng ký) :

Tiêu biểu cho tùy bút Nhật Bản, Hôjôki (1212) là tác phẩm của Kamo no Chômei (Áp, Trường Minh, 1155 ?-1216), nhà văn, nhà thơ và ẩn sĩ. Chômei là con một chức quan giữ đền nhưng cha mất lúc mới 20, không ai đỡ đầu, chịu long đong một thời. Sau nhờ theo học waka với Minamoto no Shun-e (Nguyên, Tuấn Huệ) và đàn biwa (tì-bà) với Nakahara Ariyasu (Trung Nguyên, Hữu An) mới có chút công danh. Ông được thái thượng hoàng Go-Toba-in cho làm một chức quan trong Viện Thi Ca (Wakadokoro = Hòa ca sở), dần dần nổi tiếng vì có thi tài. Lúc 50 tuổi, buồn vì việc người trong họ cản trở việc tựu chức quan giữ đền thần của mình, ông đột nhiên bỏ tất cả, xuất gia, lánh đời. Ông về vùng Ôhara rồi Hino, nay thuộc Kyôto, cất am trong núi, viết Hôjôki. Ngoài tác phẩm nầy, Chômei còn để lại tập thuyết thoại Phật Giáo Hosshinshuu(Phát tâm tập), tập bình luận thi ca Mu.myôshô (Vô danh Sao), tập thơ cá nhân Kamo no Chômei-shuu (Áp Trường Minh tập) chưa kể đã góp phần biên soạn các tập Waka theo sắc chiếu như Senzai-shuu (Thiên tải tập), Shin Kokin-shuu (Tân cổ kim tập).

Kamo no Chômei

Phương trượng [16] chỉ căn phòng nhỏ vuông vức của người tu hành, mỗi bề khoảng 3 mét. Đây là nơi Chômei trầm tư và ghi chép ý nghĩ của ông . Ông viết về phong cảnh chung quanh thảo am như sau:

Phía nam cái am, có đặt máng để lấy nước khe.Rừng ở kề bên nên nhặt cành khô làm củi không khó. Cỏ bò lan lấp lối đi, trong trũng cây cối rậm rạp nhưng phía tây lại thoáng nên buổi chiều ngắm mặt trời lặn để suy nghĩ về cõi Tây Phương tịnh độ cũng tiện. Mùa xuân hoa tử đằng nở tựa chòm mây tím, mùa hè, tiếng cuốc kêu như đưa đường về cõi u minh, mùa thu ve ran suốt ngày than cuộc đời bèo bọt, mùa đông thì cảnh tuyết rơi phô cho thấy vòng sinh diệt của kiếp người đầy tội lỗi. Mỗi ngày được niệm Phật đọc kinh tùy thích, sống có một mình nên chẳng lo phạm tội gian dối cùng ai. Tảng sáng ra bờ sông Uji ngắm thuyền bè qua lại, miệng ngâm nga mấy câu thơ, chiều về khảy ít tiếng tỳ bà. Có hứng thì chơi điệu Thu Phong Lạc hay khúc Lưu Tuyền bí truyền. Dù đánh không hay cũng chẳng lo ai để ý.

Lâu lâu có thằng bé con người canh gác sống ở dưới chân núi lên am chơi. Nó mười tuổi, ta sáu mươi. Tuổi tác tuy có khác nhau nhưng cùng đi ngắt hoa, hái quả, đào khoai rừng, nhặt gié lúa sót. Nếu trời đẹp, lại lên đỉnh cao nhìn về cố hương Kyôto, ngắm ngọn Kohata, mấy làng Fushimi, Toba. Đôi khi lại theo đường núi vãn cảnh chùa Iwama, chùa Ishiyama trên núi Kasatori, hay là từ Awazugahara ghé thăm dấu cũ của (nhà thơ mù) Semimaru, vượt sông Tanakami, đến tận ngôi mộ (thi hào) Sarumarudayuu. Đêm thanh vắng thì ngồi nhớ lại bạn bè xưa, nghe tiếng vượn kêu, sa nước mắt. Nhìn đàn đom đóm mà ngỡ ánh lửa phía đảo Makinoshima. Nghe chim núi hót bi ai, đâm thương cha nhớ mẹ. Cả đến tiếng cú rúc trước kia khó ưa, bây giờ cũng gợi ta nguồn hứng.

Những câu như “  Sông kia chảy không hề ngừng và nước có bao giờ lại là dòng nước cũ [17] mà ông viết nói lên sự đồng cảm của mình với lẽ đời vô thường. Nội dung phần đầu tập sách miêu tả năm tai ách của người Nhật thời đó : trận hoả tai năm Angen (An Nguyên, 1177) thiêu rụi 1/3 thành phố Kyôto, trận bão lốc năm Jishô (Trị Thừa, 1180), quyết định đột ngột thiên đô về Fukuhara (Phúc Nguyên, gần Kobe) của quyền thần Taira Kiyomori cũng vào năm 1180 khi quân Yoritomo và Kiso tấn công, nạn đói năm Yôwa (Dưỡng Hòa, 1181) làm chết trên 42.000 người, trận động đất năm Genryaku (Nguyên Lịch, 1185). Ông viết chính xác đến từng chi tiết với một giọng văn gây xúc động của người chứng kiến cảnh đời vô thường của một kinh đô có lịch sử huy hoàng 400 năm đang lần hồi sụp đổ.

Truyện đói kém được tả lại như sau :

Hình như hồi năm Yôwa thì phải, chuyện xưa rồi nên không nhớ rõ. Suốt hai năm liền, không lương ăn, bao nhiêu cảnh bi thảm. Xuân, hạ thì hạn hán, thu, bão tố lũ lụt, toàn là tai ách, ngũ cốc không ra hạt.Nông dân bỏ ruộng vườn, chạy qua xứ khác hay vào trong núi ở. Cầu đảo, làm bùa làm phép chẳng có kết quả. Thóc lúa dưới quê không lên nên người hàng phố kinh đô phải đem bán đổ bán tháo những đồ quí giá mà chẳng ai mua cho. Nếu có người chịu đánh đổi thì tiền bị coi rẻ, lương thực đắt. Ngoài đường đầy ăn xin. Đến năm sau lại thêm bệnh dịch, người người như cá mắc cạn, những kẻ gốc gác sang trọng cũng phải ăn mày, bước không muốn nổi. Vệ đường đầy xác người chết đói. Hai bờ sông Kamo, hài cốt chồng chất.

Bị du vào thế cùng, có kẻ vào chùa đánh cắp tượng Phật, ban thờ, đem ra chợ bán làm củi. Phải giương mắt nhìn những hành vi ấy, ta hận cho mình đã sinh ra vào thời buổi như vầy.

Sau khi đã kể lại 5 tai ách, trong phần thứ hai của quyển sách, ông hồi tưởng lại cuộc đời đầy dẫy bất hạnh của chính bản thân và kể lại bước đường đã khiến ông từ bỏ cuộc đời vô nghĩa để xuất gia, lập am trong núi ẩn cư. Ông tả lại một cách sống động cuộc đời nhàn tản lần đầu tiên tìm thấy được trong niềm vui tôn giáo, thi phú và âm nhạc.Tuy nhiên, trong phần kết, ông lại lên tiếng phủ nhận bản thân mình vì đã quá chấp nhất, chỉ lo nghĩ đến cuộc sống thảo am thanh tĩnh.

Sách ngắn thôi nhưng đủ để miêu tả tâm tình với rất nhiều cảm khái của một người trí thức phải kinh qua một thời đại đầy biến loạn.

Phần đầu có giọng văn than thở vì phải miêu tả năm tai ách, phần sau ca ngợi cuộc sống nhàn cư, để rồi kết luận gấp rút bằng phủ nhận bản thân, nghĩa là sách được chia thành 3 phần khá rõ ràng. Sách viết bằng chữ Hán pha chữ Nhật, có nhiều đối cú, câu văn mạnh mẽ, lý luận minh bạch, nhất là những đoạn miêu tả thiên tai để lại nhiều ấn tượng. Tuy viết theo dàn bài tập Chiteiki (Trì Đình Ký, 982) của Yoshishige no Yasutane (Khánh Từ, Bảo Dận, 934 ?-1002), văn nhân cuối thời Heian nhưng với tư cách là tác phẩm do một ẩn sĩ sáng tác lại có thêm quan điểm nhìn cuộc đời như một cõi vô thường, Hôjôki đã trở thành một tiêu biểu cho dòng văn học yếm thế đồng thời là lý tưởng tự do và ảnh hưởng nhiều đến toàn thể văn chương trung cận đại.

A)Tsurezure-gusa (Đồ nhiên thảo) 

Tăng nhân Kenkô (Kiêm Hảo), có người đọc là Kiêm Hiếu, sinh và mất khoảng 1283 ?-1352 ?, đã hoàn thành tập tùy bút Tsurezure-gusa tạm dịch là “ Viết lúc buồn tình ” hay “ Bút nhàn ” vào năm 1331, lúc có cuộc đảo chánh mạc phủ lần thứ hai thất bại của thiên hoàng Go-Daigo. Tên thật của ông là Urabe Kaneyoshi (Bốc Bộ, Kiêm Hảo), một dòng họ lo việc bói toán, nhà đời đời làm chức quan giữ đền Yoshida (Cát Điền) cho nên ông còn được gọi là Yoshida Kaneyoshi. Khoảng năm 20 tuổi, vào hầu cận quí tộc Horikawa (Quật Hà), nhờ đó được làm quan lục phẩm dưới đời thiên hoàng thứ 94 Go-Nijô (Hậu Nhị Điều, trị vì 1301-1308). Lúc thiên hoàng băng, ông mới trên dưới 30 nhưng bỏ đi tu, lấy pháp danh là Kenkô từ đó.

Ông là nhà thơ waka thuộc trường phái Nijô, môn hạ của Nijô Tameyo (Nhị Điều Vi Thế), cùng với Ton-a (Đốn A), Jôben (Tĩnh Biện), Kei-un (Khánh Vận) được đời ca tụng là “ Bốn Nhà Thơ Waka Trụ Cột ” (Hoà Ca Tứ Thiên Vương). Xem như vào năm 40 tuổi thì ông đã chỉnh đốn xong phần chính của Tsurezuregusa. Ông vừa giỏi thơ waka, vừa là học giả cổ văn, vừa thông hiểu phép tắc nghi lễ thời trước, nhờ đó giao thiệp thường xuyên với Tướng Quân Ashikaga Takauji (Túc Lợi Tôn Thị, 1305-1358), các vũ tướng Tadayoshi (Trực Nghĩa, em trai Takauji,1306-1352), Kô no Moronao (Cao, Sư Trực, ?-1351) và nhà thơ waka Nijô Yoshimoto (Nhị Điều, Lương Cơ, 1320-1388). Cuối đời ông về sống ở Marabigaoka (Song Khâu) bên cạnh chùa Ninnaji (Nhân Hòa Tự) ở Kyôto. Ông còn có tập thơ soạn riêng Kenkô Hôshi Kashuu (Kiêm Hảo Pháp Sư Ca Tập).

Yoshida Kenkô

Tsurezure (đồ nhiên) là trạng huống buồn chán, không thiết làm gì, xem việc viết lách như một cách làm cho mình khuây khoả[18]. Tập tùy bút để giải khuây nầy gồm 143 đoạn vừa dài vừa ngắn, độc lập với nhau, nội dung của nó nói về các thú vui thời đại vương triều và khảo sát về phong tục tập quán, nghi thức trong nếp sinh hoạt của người đời trước, nghĩa là bày tỏ thái độ ngưỡng mộ đối với văn hóa quí tộc cổ xưa nhưng cũng cùng lúc, để ý đến những gì đã biến đổi.Trong tác phẩm này, ngoài những giai thoại liên quan đến giới quí tục cung đình, các tăng nhân, chiến sĩ, con buôn…tác giả còn trình bày quan điểm về cờ vây, nghệ thuật nấu ăn, binh pháp, hoa cỏ chim chóc, gió trăng, ý nghĩa cuộc đời, tâm lý con người, nhất là những khía cạnh đen tối của nó. Tác giả khuyên người ta qua những biến chuyển mà tìm ra được cái đẹp trong lẽ vô thường nghĩa là vạn vật có thay đổi thì mới đẹp, cho nên nếu đã ghét cái chết thì phải biết yêu cuộc sống,

Tác giả có kiến thức sâu rộng đã đành nhưng còn có cái nhìn nhạy bén về thiên nhiên, về cái đẹp, cũng như tài quan sát tinh tế, sâu sắc tâm lý con người.Văn ông bình dị, trong sáng, cân đối, không thừa thải bao giờ. Cùng với Hôjôki, Tsurezuregusa đại biểu xứng đáng cho dòng văn học ẩn sĩ và thể loại tùy bút. Nó thể hiện đầy đủ đặc sắc của thể văn nầy vì để mặc cho ngòi bút kéo đi, sự nối kết giữa các đoạn không có gì gượng ép. Nó chịu ảnh hưởng của Makura no sôshi đời Heian nhưng không ca tụng vương triều như tác phẩm của bà Sei. Đúng hơn, nó chia sẻ với Hôjôki cái nhìn vô thường về cuộc đời, người thế. Trên phương diện tư tưởng, Tsurezuregusa còn đáng được đánh giá cao hơn Hôjôki vì nó không chỉ là một lời than thở về lẽ vô thường mà là sự chiêm nghiệm cái đẹp của mọi biến đổi . Nói khác đi, đó là điểm xuất phát của một quan niệm thẩm mỹ mới, mujô no bi (cái đẹp của vô thường), đặc điểm của văn học trung cận đại Nhật Bản.

Xin trích vài đoạn nhỏ của Tsurezuregusa:

Không nên đợi đến lúc về già mới bắt đầu tu đạo Phật. Hãy xem những ngôi mộ cổ kia, toàn của người chết trẻ. Ngã bệnh lúc nào không biết, rồi phút giây sắp vĩnh biệt thế gian mới ý thức được những sai lầm của đời mình. Chuyện gọi là sai lầm có gì lạ đâu: chuyện đáng lẽ phải làm bây giờ lại để sau rồi tính, chuyện thủng thỉnh suy nghĩ được thì lại hấp tấp làm ngay, chuyện đã qua đứt rồi còn đứng mà tiếc. Lúc đó có hối thì được gì nào? Chỉ nên ghi lòng tạc dạ một điều: cuộc đời chung quanh ta tất cả chỉ là vô thường, và không giây phút nào được quên điều đó. (Đoạn 49)

Những kẻ ta không nên chơi có bảy loại. một là kẻ quyền cao chức trọng, hai là đám thiếu niên, ba là những ai khoẻ mạnh không biết đau ốm là gì, bốn là bọn rượu chè, năm là bọn vũ sĩ bạo tợn, sáu là dân khoác lác và bảy là người keo kiệt.

Giao du được có ba loại : trước hết là bạn bè thảo lảo, hai là mấy ông thầy thuốc và ba là những người thông minh tinh tế (Đoạn 117).

Có phải ta chỉ nên ngắm anh đào lúc hoa mãn khai hay ngắm vầng trăng lúc ánh sáng không có gì che khuất ? Những kẻ thấy vầng trăng dễ thương sau màn mưa che hay những kẻ đóng kín cửa nằm nhà, không hay bên ngoài mùa xuân đang đi qua mới có mối cảm hoài sâu sắc. Nhìn ngọn cây tưởng sắp nở hoa thế mà đã thấy hoa kia héo rụng tả tơi trong sân, đó mới là những lúc đáng xem (Đoạn 137)

Về sau, không những hai ca tăng (nhà tu hành và đồng thời nhà thơ waka) Shôtetsu (Chính Triệt, 1381-1459) và Shinkei (Tâm Kính, 1406-1475) đều tiếp nhận ảnh hưởng lớn lao của nó mà các sách vở dạy về thuật xử thế, luận bàn về nhân sinh quan đều mang dấu ấn của ông.

D) So sánh 3 tập đại tùy bút Nhật Bản

  Makura no sôshi Hôjôki Tsurezukegusa
Tác giả Sei Shônagon Kamo no Chômei Kenkô (Yoshida  Kaneyoshi)
Thành hình năm khoảng 1001 (thời Heian) khoảng 1212 (đầu Kamakura) khoảng 1331 (cuối Kamakura)
Nội dung 200 đoạn (những cái giống nhau, hồi tưởng, tùy bút) (bảy tai ách xảy ra, hồi tưởng đời mình, phản tỉnh hối tiếc) 243 đoạn (bản chất của thiên nhiên, sự vật, con người)
Lối biểu hiện Hoà văn

Miêu tả nhẹ nhàng, sống động, mới mẽ.

Văn hỗn hợp  Hòa Hán (sử dụng đối ngẫu, tỉ dụ). Tả thực. Văn hổn hợp và mô phỏng cổ nhân. Trích đối thoại.Bình dị.
Đặc sắc Khái niệm Okashi (cái đẹp theo chủ quan) Khái niệm vô thường Thẩm mỹ của vô thường
Đánh giá Khai phá thể loại tùy bút. Quan sát sắc bén, dí dỏm. Điển hình cho văn học ẩn dật, ảnh hưởng đến văn học trung cổ Điển hình cho văn học ẩn dật. Ảnh hưởng đến thi ca (renga, haikai)

Xuất xứ: Sigma Shinkokugo Binran, sđd

TIẾT IV: TÙY BÚT THỜI EDO :

Nhân đây cũng nhắc đến một số tùy bút thời Edo đã nối tiếp truyền thống của Sei Shônagon, Kamo no Chômei và Toshida Kenkô :

1-     Oritakushiba no Ki “ Ghi chép về những cành củi chụm”(1716) : Tác giả quyển tùy bút nầy là Arai Hakuseki (Tân Tỉnh Bạch Thạch, 1657-1725) ghi chép cảnh ngộ của tổ phụ và của mình lúc làm quan dưới thời tướng quân Tokugawa Ienobu và Ietsugu. Đây là một tập tư liệu lịch sử quan trọng.

2-     Jôzan Kitan (Thường Sơn kỳ đàm, 1739) của Yuasa Jôzan (Thang Thiển Thường Sơn, 1708-1781) ghi lại hơn 100 giai thoại về các vũ tướng từ đời Sengoku đến đời Edo.

3-     Sundai zatsuwa (Tuấn đài tạp thoại, 1732) do Muro Kyuusô (Thất, Câu Sào, 1658-1734) tùy bút với chủ đề về học vấn và đạo đức trên lập trường Chu Tử Học.

4-     Kagetsu Sôshi (Hoa nguyệt thảo chỉ, Hoa nguyệt song chỉ 1818) của Matsudaira Sadanobu (Tùng Bình, Định Tín) luận về hoa, nguyệt, phong quang, nhân vật. Gồm 156 chương viết theo gabuntai (nhã văn thể).

TẠM KẾT:

Nhật ký và tùy bút là một thể loại văn học đặc biệt trong văn học Nhật tự thời xưa. Tuy nguồn gốc cũng đến từ Trung Quốc nhưng đã phát triển rất sớm và mang màu sắc riêng tư, táo bạo hơn những tác phẩm đồng loại ở đại lục, lại được đảm đương phần lớn bởi những cây bút phụ nữ, một điều lạ trong xã hội phong kiến. Ngoài ra, nó còn là mạch nước ngầm đã biến thành một dòng sông lớn: dòng văn học shi-shôetsu (tiểu thuyết nói về cái tôi) của thời hiện đại mà nhiều người vẫn qui kết cho Ich Roman (I-Novel) của phương Tây như là nguồn cội duy nhất.

[1] Tiêu tức còn là một hình thức văn học (tiêu tức văn= shosokubun hay shosokobumi) thường được lồng khung trong các tác phẩm, ví dụ nhật ký của Izumi Shikibu. Có thể hiểu như thư viết cho người khác nhưng cũng có thể hiểu như lời nhắn nhủ của tác giả đối với chính mình.

[2]Kagerô chữ Hán viết là tinh đình hay phù du (kiếp phù du bèo bọt), ta còn gọi là chuồn chuồn (phận mỏng cánh chuồn), trong văn họcthường chỉ số kiếp ngắn ngũi, mong manh, có đó không đó. Kage còn có nghĩa là cái bóng.

[3] Fujiwarano Kaneie (Đằng Nguyên Kiêm Gia, 929-990), con trai của Morosuke (Sư Phù), cha của Michitaka (Đạo Long), Michikane (Đạo Kiêm), Michinaga (Đạo Trường) và hoàng hậu Senshi (Thuyên Tử). Ông đã đặt nền móng cho thời toàn thịnh của dòng họ Fujiwara.

[4] Thời xưa, các bà vợ của quí tộc ở riêng và đợi chồng đến thăm. Từ đó trong văn chương có hình ảnh “người đàn bà trông chờ” (matsu onna).

[5] Sanuki (Tán Kỳ), tên đất cũ nay thuộc tỉnh Kagawa, phía bắc đảo Shikoku . Cha bà Nagako là Fujiwara no Akitsuna (Đằng Nguyên, Hiển Cương) giử chức quan trấn thủ vùng nầy.

[6] Theo René Sieffert, Sei Shônagon chỉ là một tên để gọi (yobina) như bút hiệu chứ không phải tên thật. Ngày xưa, ở Nhật, phụ nữ quí tộc hầu trong cung thường được gọi theo chức phận và chỗ nhậm chức của người cha. Có thể Shônagon là chức quan của bố và Sei (Thanh=Kiyo, trong trẻo) là âm Hán gọi tắt tên Kiyohara (Thanh Nguyên), họ của bà.

[7] Utamakura (Ca chẩm) là mào đầu giống như gối để gối đầu (chẩm = cái gối), qui ước cần thiết giúp cho người làm thơ (uta) dựa vào đó để giao cảm được với người đọc. Có thể hiểu như là những ước lệ trong thi ca. Sách Nô-in Utamakura (Năng Nhân ca chẩm) của tăng Nô-in (Năng Nhân), một trong 36 ca tiên thời Hei-an, cho biết thơ tả cảnh mùa xuân (haru) thì phải có hoặc là kasumi (sương lam), asamidori (màu xanh non), ume no hana (hoa mơ) hay sakura (anh đào), uguisu (chim oanh) vv…

[8] Đoạn văn này làm ta liên tưởng đến một tiểu phẩm do Kim Thánh Thán viết về những các việc khoái chí với điệp khúc “Thế chẳng sướng sao!” mà Lin Yutang (Lâm Ngữ Đường) đã dịch sang Anh văn trong cuốn The Importance of Living (bản dịch tiếng Việt có tựa là Lạc Thú Ở Đời). Nó cũng gợi ta nhớ đến Vũ Trung Tùy Bút và Mai Đình Mộng Ký.

[9] Tamakiharu ( Một đời tận tụy), một trong những tên của tập nhật ký do bà con gái ông Fujiwara Shunzei, chị ông Fujiwara Teika, không rõ tên, hiệu là Kenshunmon-in Chuunagon (Kiến Xuân Môn Viện Trung Nạp Ngôn) viết khoảng năm 1219, lúc bà đã 63 tuổi, hồi tưởng lại những ngày bà vào cung hầu hạ Kenshunmon-in, tức là hoàng thái hậu sinh ra thiên hoàng Takakura (Cao Thương).

[10] Không rõ tác giả nhưng có lẽ ra đời vào đầu thời Kamakura. Sách kể những giai thoại kèm theo tranh vẽ về cuộc đời của các công khanh họ Taira như Taira Shigehira ( Bình, Trọng Hành), Koremori (Bình, Duy Thịnh) và những nhà quí tộc chung quanh họ như bọn Fujiwara Takafusa (Đằng Nguyên, Long Phòng).

[11] Trong tác phẩm này, Ienaga kể lại quá trình biên soạn thi tập Shin kokin shuu (Tân cổ kim tập) và đường lối làm việc của từng người tham gia. Sách có lẽ ra đời đầu thời Kamakura.

[12] Tác giả Ben no Naishi tức là con gái của Fujiwara no Nobuzane (Đằng Nguyên, Tín Thực). Tập nhật ký của bà ra đời khoảng trước năm 1278, ghi chép về thời kỳ hầu cận trong hậu cung thiên hoàng (thứ 89 ) Go Fukakusa (Hậu Thâm Thảo, trị vì 1246-1260 )

[13] Bà nội thị Nakatsukasa tên thật là Fujiwara Keishi (Đằng Nguyên Kinh Tử) Nhật ký của bà ra đời có lẽ khoảng sau năm 1292, ghi chép việc hầu hạ trong hậu cung thiên hoàng (thứ 92) Fushimi (Phục Kiến, trị vì 1287-1298).

[14] Theo thiển nghĩ, ở Việt Nam, tuy không phải là văn du ký thuần túy nhưng Thượng Kinh Kỷ Sự của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác cũng có thể liệt vào loại nầy. Ngoài ra còn có những tập kỷ sự về sứ trình, văn thơ của nhân viên các sứ bộ, chẳng hạn.

[15] Xin nhớ lúc đó, Nhật Bản chưa là một quốc gia thống nhất . Dùng chữ “ vùng” là theo nhãn quan hiện đại. Đáng lẽ phải viết là “ nước » (kuni=quốc)

[16] Tây phương thường dịch Phương trượng ký là An account of my hut (Anh Mỹ) hay Notes de mon ermitage (Pháp)

[17] Có thuyết cho là câu nói mượn từ Thán Thệ Ký trong Văn Tuyển của Trung Quốc.

[18] Tây phương thường dịch là Esays in Idleness (Anh Mỹ) hay Au fil de l’ennui (Pháp)

* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài Gòn trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: nntran@erct.com 

Nguồn: www.erct.com

ẢNH: Aden Ardenrich- pexels.com

XEM THÊM: 

1/