Con Người Nghệ Thuật Trong Thơ Kobayashi Issa

Kobayashi Issa (1763 – 1827) là một trong bốn nhà thơ haiku vĩ đại nhất của Nhật Bản. Thơ ông đã vút lên tình thương yêu con người, lòng sẻ chia, đồng cảm với trần ai khổ lụy. Con người trong thơ ông hiện lên như những ánh hào quang trần thế, bình thường, giản dị và rất đỗi đáng yêu.

KOBAYASHI ISSA – NỖI BI THƯƠNG TRẦN THẾ

Ngay từ cái tên giản dị Issa (Nhất Trà: Một chung trà), thi nhân đã dự báo cho độc giả một số phận cô đơn rồi. Trên xứ sở của thi ca ấy, muôn vạn nhà thơ đã ghi tên mình vào lịch sử: Saigyo, Sogi, Basho, Buson, Shiki… Issa cũng lặng lẽ đặt tên mình vào bia văn tưởng niệm của muôn đời, với tư cách một hồn thơ nhân văn, thấm đẫm tình yêu thương con người.

Với bậc tiền bối haiku, Issa không mực thước như Basho, với những người cùng thời, Issa không hiện thực hóa haiku như Onitsura cũng không cách tân ấn tượng như Buson mà ở Người Thơ ấy, chúng ta bắt gặp những khúc ca bi ai về tình yêu thương đồng loại, từ những trái tim trầy xước, rớm máu đến những khoảnh khắc độc sáng của tình cảm con người. Đó là haiku của Issa – những câu thơ thấm đẫm chất văn hóa Nhật Bản từ truyền thống Manyoshu vọng về.

Tên thật của ông là Kobayashi Nobuyuki (1763 – 1827), xuất thân trong một gia đình trung nông thuộc địa hạt Shinamo. Và kể từ khi con người ấy xuất hiện thì như một định mệnh, khổ đau, phiền muộn đã theo gót chân của Nobuyuki suốt cuộc đời.

Cậu bé tội nghiệp ấy mới lên ba đã mất mẹ. Đó là khởi điểm của một số phận nhiều sóng gió, lắm gian truân. Năm năm sau, cha của Issa tục huyền nhưng cái gia đình ấy không hề được yên ấm. Đến năm mười bốn tuổi, Issa mất luôn bà nội, chỗ dựa tinh thần bấy lâu của cậu. Kể từ đó, Issa bỏ làng ra đi.

Cũng giống như Basho, Issa rời bỏ một quá khứ đau buồn để tìm đến một chân trời mới. Nếu ở Basho thì cái chết của người bạn thâm giao Todo Yoshitada là nguyên nhân của việc rời bỏ quê hương thì ở Issa đó là cái chết của người bà yêu quý. Con người trong cuộc sống này cũng lớn lên từ những lần ra đi như vậy.

Issa đến Edo (nay là Tokyo) năm 1777, bắt đầu làm việc cật lực để tự kiếm sống. Ngoài thời gian làm việc, Issa chuyên tâm nghiên cứu haiku với Chikua. Trước đó, trong thời gian ở quê hương, Issa đã từng học làm thơ với một thầy giáo làng có bút hiệu là Shinpo.Từ những năm 1790, Issa trở thành một thi tăng, và ông cũng nối gót các tiền nhân, hòa mình vào con đường của các lữ nhân (tabibito) du hành trên khắp mọi nẻo đường đời để sáng tác, và bắt đầu in thơ từ năm 1794.

Năm 1801, Issa lại đón nhận thêm một sự ra đi nữa của người thân – người cha qua đời. Chúc thư thừa kế dành cho Issa đã bị mẹ con dì ghẻ cướp quyền, đẩy Issa tiếp tục dấn thân vào con đường tha phương thêm mười ba năm nữa. Nhưng khoảng mười ba năm sau đó là khoảng thời gian đỉnh cao của Issa. Ông trở thành một trong những nhà haiku lỗi lạc cũng trong thời gian này khi khẳng định được phong cách và tài năng của mình.

Năm 1815, nhờ sự giúp đỡ của một nhà sư, Issa lấy lại được chút ít tài sản, rời Edo về quê cũ sống. Thời gian này ông kết hôn với một cô gái trong làng tên là Kiku, lúc đó ông đã hơn năm mươi tuổi! Ngẫm ra thật đau xót nhưng dường như điều này càng làm tăng thêm sự bi thương trong hành trình tồn sinh của Issa. Trong cái khoảnh khắc đáng ra người ta phải được nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng thì Issa vẫn còn long đong, lận đận với cuộc mưu cầu hạnh phúc của chính mình.

Những tưởng tai họa đã chấm dứt với ông nhưng không, Kiku chính là điểm khởi đầu mới cho hàng loạt tai họa của ông. Những đứa con của họ lần lượt sinh ra đời để rồi ra đi khi chúng chưa qua hết tuổi ấu thơ. Và mẹ của lũ trẻ cũng mất không bao lâu sau đó. Có lẽ đó là cách giải thoát tốt nhất cho những số phận hẩm hiu ấy.

Issa cũng đã kết hôn với một người phụ nữ khác sau khi Kiku qua đời nhưng kết quả ông nhận được chỉ là một cuộc li hôn chóng vánh.

Ngày 18 tháng 11 năm 1827, trong  căn nhà kho tịch mịch, thiếu ánh sáng, giữa mùa đông tuyết lạnh giá, Kobayashi Issa đã viên tịch, kết thúc hành trình bi ai của một tâm hồn thương đau.

DUYÊN NỢ TRẦN AI

Sự chuyển biến đề tài chính là một dấu hiệu quan trọng để đánh dấu sự khác biệt trong gia tài thi ca của Issa với Basho hay Buson và cả những nhà thơ trước đó. Thiên nhiên vẫn được coi trọng, nhưng bản thể càng được coi trọng hơn trong thơ của Issa. Hình ảnh của con người trong cuộc sống được Issa chú trọng thể hiện trong thơ với nhiều cung bậc trong đời sống con người. Đó có thể là em bé mồ côi, là kẻ lữ khách trở về cố hương, là cô thiếu nữ e lệ nép mình dưới hoa… Tất cả chúng đều tồn tại trong một điểm quy chiếu trong thơ của Issa: tính cá nhânCon người cá nhân không phải là một phạm trù hoàn toàn mới đối với thơ haiku. Ngay từ thuở bình minh văn học của “Manyoshu” (Vạn diệp tập), người ta đã trọng chữ “tình” rồi những thi nhân như Saigyo, Sogi, Basho hay Buson đều có những vần thơ thể hiện tầm vóc của con người cá nhân trong haiku:

“Hoa triêu nhan ơi

Cả em rồi cũng

Chẳng là bạn tôi”

(Matsuo Basho)

Những vần thơ ấy là niềm hoài nghi của nhà thơ về bản thể, đóng cửa lòng để tìm đến lý tưởng hòa mình vào cát bụi và ánh sáng trần ai, tìm đến cõi karumi – niềm khinh thanh êm đềm trong cuộc sống nhiều khổ đau để vươn đến cái đẹp vĩnh hằng.

Kiểu con người cá nhân không hẳn là một đứa con cầu tự của thơ haiku thời kì này. Nó gắn liền với bản thể, với tâm thức. Nghĩa là có cơ duyên với chất Thiền trong haiku. Nhà thơ luôn đau đáu kiếm tìm những khoảnh khắc đốn ngộ trong thơ ca của mình, vậy nên, con người cá nhân mới có điều kiện để dưỡng dục, thành hình qua nhiều giai đoạn thơ ca. Và có thể nói, đến với Issa, kiểu con người ấy đã bừng sáng, trỗi dậy chiếm lĩnh không gian và thời gian, chiếm lĩnh nhiều địa tầng ý nghĩa trong thơ của ông. Thơ của Issa, đôi khi ngẫm lại, là thứ thơ ca dành cho những số phận đau thương, mất mát của cuộc sống này, đọc để đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã. Đó là con người cá nhân mà không phải cá nhân vậy!

Trong kho tàng haiku của Kobayashi Issa, những bài haiku về mẹ là một dấu nhấn đầy ám ảnh trong hồn thơ của lữ nhân sầu bi này. Người mẹ là suối nguồn vô tận cho thơ ca, nhưng càng những người mất mẹ như Issa thì càng thấu hiểu được nỗi đớn đau của mồ côi là gì. Ông đã thốt lên những vần thơ bi thương, khiến hậu thế không khỏi mủi lòng:

“Đến đây nào, với tôi

Cùng chơi đùa, chim sẻ

Không còn mẹ trên đời”

Sự cô độc của đứa trẻ là tiêu điểm của bài thơ. Cậu bé trong bài thơ chỉ còn biết chơi đùa với chim sẻ – một đối tượng không hiểu được tiếng nói của đứa trẻ nhưng cũng có thể đồng cảm được với nó bởi vì chúng cùng một tình cảnh “không còn mẹ trên đời”. Câu cuối buông ra như một lời trách móc nhưng bao chứa trong đó là cả một sự tủi thân trẻ thơ mà bất cứ ai cũng có quyền như vậy.

Các nhân vật “em bé” thường xuất hiện cô độc như vậy trong thơ của Issa. Chúng càng khắc sâu thêm tính nhất quán trong kiểu con người cá nhân trong thơ của ông. Những tín hiệu cô đơn luôn được khởi phát từ những mất mát, đối với các nhân vật trẻ em trong các bài thơ về mẹ này là sự mồ côi. Tín hiệu “không còn mẹ” đôi khi quá tàn nhẫn, nó đã trở thành một nỗi ám ảnh theo suốt cuộc đời của Kobayashi Issa.

Không thể cấm người ta khóc trước những khổ đau của đời mình nhưng có những con người không thể khóc, đành nuốt khổ vào tim để rồi cả đời cứ nhói đau không dứt, người ấy chính là Issa. Trong rất nhiều bài thơ về sự khổ đau ấy, Issa không hề rơi lệ. Người đọc ngỡ tưởng đó là sự bình thản nhưng không, đó là vỏ bọc của một trái tim rớm máu:

“Trong vườn cánh bướm

Đứa bé bò theo, bướm bay

Đứa bé bò theo, bướm bay”

Ông nhìn đứa trẻ mà cũng chính là nhìn vào chính số phận mình ấy thôi. Thuở trước ông đồng cảm với con chim sẻ thì bây giờ ông đồng cảm với chính đứa con thân yêu của mình. Hai tâm hồn, hai thế hệ nhưng cùng chung một nỗi đau. Bi kịch của đời cha lặp lại ở đời con, bi kịch càng thêm bi kịch.

Người đọc có thể hoài nghi lắm với kiểu con người “dửng dưng” trước nỗi đau ấy. Nhưng nào có phải vậy, đó vẫn là những con người bị tổn thương trầm trọng. Nhưng điểm để phân biệt những con người cá nhân trong thơ Issa với những con người khác đó chính là thái độ sống tích cực, có niềm tin vào cuộc sống. Đó cũng chính là chất nhân văn thắm nhuần trong từng âm tiết haiku của Issa. Dẫu cho cuộc sống trần ai vẫn còn nhiều khổ đau thì ông vẫn hướng đến một cõi siêu thoát đầy lạc quan. Đặc điểm này tạo ra những kiểu con người lạc quan trong thơ của Issa.

Con người lạc quan được thể hiện tư thế an nhiên, tự tại trong cuộc sống, không hề thất vọng, chán chường mà luôn vươn đến những tầm cao mới của đời sống:

“Gió mùa thu

Địa ngục nào đấy

Cùng tôi giang hồ”

Thi nhân đã phiêu du cùng gió trời, cát bụi, hà tất phải phiền muộn về những mất mát của trần gian. Địa ngục hay gió mùa thu, sự chết hay cái đẹp cũng trở thành bạn đồng hành trong cuộc lữ hành trăm năm ấy mà thôi. Không có gì cản được bước chân của lữ nhân trên con đường đi tìm cái đẹp, ngưỡng vọng bản thể nhân sinh ấy cả. Tầm vóc ấy, vì vậy, mà mang tầm vóc vũ trụ, chứ không đơn thuần mang tính cá thể nữa. Nó có tính quảng đại của một tư thế hiên ngang giữa đất trời, xem thường khổ đau của cuộc tồn sinh thế gian. Và chung quy lại, đó vẫn là những “bước đi trên mái địa ngục” để “ngắm nhìn hoa bay”. Chính cái tư thế ấy đã tạo cho nhà thơ những cái nhìn vui tươi sau những mất mát của đời mình:

“Tuyết tan mùa

Thôn làng tràn ngập

Một bầy trẻ thơ”

Không còn là em bé một mình tập cười trong đêm mùa thu vắng lặng, không còn là nỗi đau mất mẹ nữa mà thay đó vào đó là tràn ngập những tiếng cười hạnh phúc. Thời điểm mùa xuân đến cũng chính là thời điểm của đất trời hồi sinh, lòng người rộng mở.

Những vần thơ của Kobayashi Issa là những vần thơ của nhân thế, của thế gian đa chiều. Đó chính là những sắc thái tình cảm cá nhân, những cái tôi tiểu ngã hòa trong đại ngã của vũ trụ. Tất cả những sắc thái ấy được thể hiện qua nhiều góc độ, một trong những phương diện độc đáo trong thơ ông, chính là những vần thơ viết về tình yêu.

Con người tình yêu trong thơ Issa thường xuất hiện trong trạng thái không viên mãn, không giống như những cặp tình nhân của Yosa Buson:

“Mưa xuân thầm thì

Bên nhau đôi bóng

Ô và áo tơi đi”

Trong thơ Issa, con người tình yêu không xuất hiện như một cặp giao hòa mà thường trong trạng thái cô lẻ, không đối ứng mà chỉ là độc hành:

“Cô gái chờ ai

Trải dài bóng tối

Trên thủy triều chiều nay”

Con người bị thu hút vào không gian và thời gian. Bóng tối cứ trải dần ra nhấn chìm con người trong sự chờ đợi. Lòng người dễ đã đổi thay như thủy triều để đến nỗi cả hoàng hôn lặng im trong cô đơn mà không thốt nổi thành lời. Không gian trôi nhanh, thời gian lặng lẽ, con người lẻ bạn, cả ba đối tượng ấy chìm vào nhau để diễn tả một sự đợi chờ vô vọng. Cô gái đã không may mắn gặp được người cô hẹn, âu cũng là hữu duyên mà vô duyên vậy hay đó là cái duyên nghịch theo thuyết nhà Phật. Con người gặp gỡ trong nhân gian phải cần có chữ “duyên” bắc cầu. Duyên thuận thì thích hợp để sinh thành phát triển, duyên nghịch thì ngáng trở, bất thành. “Duyên” chính là điều kiện cần cho tình yêu rộ nở, cô gái cũng chỉ biết trách mình vô duyên mà thôi.

“Dưới bóng cây

Trú mưa cùng bướm

Duyên trần ai hay”

Ngay đến việc gặp gỡ một cánh bướm, với Issa, cũng cần phải có duyên, huống hồ chuyện tình yêu nhân gian, đâu thể thiếu yếu tố trọng yếu đó được. Cuộc đời là một bể mộng trầm luân, cánh bướm tượng trưng cho người con gái, tượng trưng cho tình yêu và cái đẹp. Nhưng con người không thể trói buộc giấc mộng nhân duyên kia vào hiện thực để rồi chung quy lại nó cũng trở thành ảo mà thôi. Hữu duyên mà vô duyên là vì vậy. Thế nên tình yêu trong thơ Issa thường vắng bóng sự chung đôi. Người ta có duyên nhưng rồi cái duyên ấy cũng lìa tan tựa như cánh bướm bay về phía trời mộng:

“Côn trùng ơi, đừng kêu

Trên trời cao ấy

Chia lìa đôi lứa yêu”

Bài thơ này được làm khi vợ ông – Kiku qua đời. Nỗi đau khổ ấy của thi nhân vút lên tận trời cao, đầy oán trách, hàm chứa nỗi thống khổ dường như đến tận cùng. Ông van nài côn trùng đừng kêu hay chính là đang van nài tâm hồn mình đừng lên tiếng? Sự chia lìa là minh chứng cho cái chân lý thực – ảo của cuộc sống trần gian. Có đó mà không đó. Thực đó mà ảo đó.

Một người lạc quan đến chừng nào thì vẫn không thể thoát khỏi đôi lúc rơi vào hoài nghi. Ngay cả đến thiên tài Basho, vào những năm cuối đời, đóng cửa không tiếp khách. Đặc điểm chung trong tư duy hoài nghi của Basho và Issa đó chính là nỗi băn khoăn về bản thể. Điều này đã tạo thành kiểu con người hoài nghi trong thế giới con người nghệ thuật trong thơ của Issa.

 “Ta bà một cõi đau

Cho dù mùa xuân đó

Đang nở những hoa đào”

Issa có phần hoang mang về kiếp sống, mặc dù mùa xuân đang nở hoa nhưng hình như nhà thơ không nhận thấy vẻ đẹp của thiên nhiên mà chuyển trung tâm điểm nhìn vào cõi ta bà. Phải chăng chính những khổ đau trần ai đã khiến cho nhà thơ hoài nghi về kiếp sống? Có lẽ không hẳn thế. Bằng chứng là cái nhìn song hành về cặp phạm trù khổ đau (cõi đau) – hạnh phúc (hoa đào – cái đẹp) của thi nhân là một nhận thức có tính biện chứng. Vậy nên cái đẹp hòa vào nỗi đau, nỗi đau biến thành cái đẹp.

Nhận thức được tính biện chứng của quy luật cuộc sống như vậy nhưng thơ ca của Issa vẫn tồn tại một sự không nhất quán trong tư tưởng. Ông đã từng kêu gọi “ngắm nhìn hoa bay” để sống với “địa ngục” nhưng ở đâu đó người ta vẫn đọc được những vần thơ:

“Kêu chi, nhạn ơi

Đi đâu thì cũng

Cõi phù thế thôi”

Nhà thơ rơi vào trạng thái mơ hồ của kiếp sống. Rõ ràng đó là một sự chấp thuận cuộc sống, thiếu đi sức cạnh tranh để tồn tại. Đây là biểu hiện của sự yếu đuối trong tâm hồn con người hẳn có xuất phát điểm từ đặc điểm văn học thiên về nữ tính của văn học Nhật Bản truyền thống. Nhưng những vần thơ như vậy xuất hiện không nhiều trong thơ của Issa. Và về cơ bản thì thơ ông vẫn là những vần thơ cổ vũ cho niềm ham sống, tinh thần lạc quan. Chúng ta có thể hiểu và thông cảm cho sự thiếu nhất quán ấy của hồn thơ Issa bởi có thân cây nào thẳng mãi mà không cong?

Kobayashi Issa là người suốt đời rong ruổi trên những con đường, cuộc sống của ông là các cuộc lữ hành, kiếm tìm, theo đuổi cái đẹp trên khắp mọi miền của xứ sở Phù Tang. Đó là hành trình thơ ca của tabibito mà ông nối gót những bậc tiền bối đi trước. Đó là hành trình của nghệ sỹ nhưng đó cũng đồng thời là hành trình của một con người lạc lõng – bị bạc đãi ngay chính ở quê hương của mình. Chúng ta thường thấy những hình ảnh về kiểu con người này trong những vẫn thơ về cố hương của ông.

“Về làng cũ

Những bụi hoa xưa

Chìa gai ra đón”

Ở một góc độ nào đó, Issa đã trở thành một con người lạc lõng, bị “ruồng bỏ” ngay chính tại quê hương của mình, đó là một bi kịch xót xa của số phận. Tuy nhiên, điều đó chỉ xét trong mối quan hệ với những thế lực đối lập với ông mà thôi. “Làng cũ” không hẳn chỉ toàn những bông gai mà vẫn còn có những con người tốt bụng như vị sư già đã giúp ông lấy lại chút ít tài sản thừa kế, còn có Kiku thảo hiền đã trở thành vợ của ông… nhưng rốt cục thì những người thân yêu ấy cũng trở thành những chiếc gai nhọn đâm vào tâm hồn ông đau nhói, bởi bất hạnh không hề bỏ qua việc hành hạ một kiếp người – Kobayashi Issa.

*

Con người nghệ thuật trong thơ Kobayashi Issa là những phản chiếu khác nhau của đời sống tình cảm của thi nhân trong thơ của mình. Nó có thể đồng nhất với tác giả nhưng cũng có thể đó là một mảnh đời bất kì nào đó được thi sĩ biểu hiện vào thơ. Chung quy lại đó là những cung bậc khác nhau của đời sống trần ai, chịu sự chi phối cá nhân của Issa trong trạng huống của một trái tim trần ai nhiều mất mát.

Những kiểu con người cá nhân, con người hoài nghi, con người tình yêu, con người lạc quan, lạc lõng… đều những biểu hiện ra bên ngoài của quan niệm nghệ thuật con người mất mát của Kobayashi Issa.

Các sắc thái khác nhau của con người nghệ thuật trong thơ Issa cũng đã phần nào chứng minh cho tính phức tạp của tình cảm con người trong thơ của ông. Nó được góp nhặt trong hành trình hơn sáu mươi năm trên cõi tạm phù sinh hư ảo của Issa. Nó là sự đúc kết những mất mát của cá nhân để đối ứng, quan chiếu với kiếp sống của nhân loại. Tính chất cá nhân ấy, về đại thể, không còn bó hẹp trong phạm vi của một hồn thơ nữa, nó đã vượt ra khỏi ranh giới của tiểu ngã để hòa vào đại ngã. Các thế hệ Nhật Bản vẫn muôn đời mến yêu hồn thơ Issa cũng bởi vậy, người ta tìm thấy bóng dáng của chính mình trong những vần thơ bi thương ấy.

NGUYỄN ANH DÂN

* Dẫn chứng thơ trong bài sử dụng các bản dịch của Nhật Chiêu 

ẢNH: Engin Akyurt – pexels.com

TÀI LIỆU THAM KHẢO

01. Nhật Chiêu, 1994, “Basho và thơ haiku”, NXB Văn Học, H.

02. Nhật Chiêu, 1997, “Câu chuyện văn chương phương Đông”, NXB Giáo Dục, H.

03. Nhật Chiêu, “Haiku và thơ mùa thu” (bản ebook, nguồn:  www.evan.com.vn)

04. Nhật Chiêu, “Haiku vượt qua ngôn từ” (bản ebook, nguồn: http://vietbao.vn/Van-hoa/Tho-Haiku-vuot-qua-ngon-tu/40206764/181/)

05. Nhật Chiêu, 1995, “Nhật Bản trong chiếc gương soi”, NXB Giáo Dục, H.

06. Nhật Chiêu, 1998, “Thơ ca Nhật Bản”, NXB Giáo Dục, H.

07. Nhật Chiêu, 2007, “Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868”, NXB Giáo Dục, H.

08. Lê Bá HánTrần Đình SửNguyễn Khắc Phi, 1999, “Từ điển thuật ngữ văn học”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

09. Nguyễn Thị Bích Hải (chủ biên), 2003, “Ứng dụng thi pháp học hiện đại vào việc phân tích tác phẩm văn học Châu Á trong trường trung học phổ thông” (Báo cáo đề tài khoa học cấp Bộ), trường Đại học Sư phạm Huế

10. N.I.Konrat, 1997, “Phương Đông và phương Tây – những vấn đề triết học, triết học lịch sử, văn học Đông và Tây”, NXB Giáo Dục, H.

11. N.I.Konrat, 1999, “Văn học Nhật Bản từ cổ đến cận đại”, Trịnh Bá Đĩnh dịch, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng

12. Trần Đình Sử, “Trần Đình Sử tuyển tập: Tập II – Những công trình lý luận và phê bình văn học” (Nguyễn Đăng Điệp tuyển chọn), NXB Giáo Dục, H.

13. Nguyễn Nam Trân, “Haiku một chút lịch sử” (bản ebook, nguồn www.thuvien-ebook.com)

14. Nguyễn Nam Trân, “Tổng quan văn học sử Nhật Bản” (bản thảo 2006 – bản ebook, nguồn: http://chimviet.free.fr/vannhat/namtran/vhsnb/vhsnb.htm