“Hai Bà Trưng” Giai Thoại Nữ Hùng Những Điều Sau Chuyện Kể


Giai thoại nữ hùng đất Việt là những câu truyện kể đặc sắc, vô vàn bản kể về các giai thoại đặc sắc và có nhiều dị bản biến tấu phù hợp với văn hóa người Việt, kể về công trạng của các cô gái thuở đầu lịch sử dựng nước và giữ nước, lưu truyền các giai thoại cùng chiến công lừng lẫy, mở đầu ngàn năm lịch sử giữ sơn hà.

Sự mở đầu lịch sử đầu tiên là người phụ nữ đã nói lên điều gì?

Đọc lập dân tộc, xưng dành lập quốc dưới quyền nữ nhi?

Sự ra đời thần kì, lai lịch của “Hai bà Trưng” bao người biết đến?

Hay người ta chỉ biết những người phụ nữ ấy qua chiến công đã từng làm nên, sau thất bại trước quân xâm lược bà về nơi đâu?

Liệu bạn có biết đến, hãy cùng tôi tìm hiểu về giai thoại này.

Giai thoại về người phụ nữ Trưng vương, cho đến ngày nay vẫn còn là một ẩn số lịch sử trong buổi đầu đấu tranh giành lấy non sông, bảo vệ dân tộc, bằng đôi tay nữ sĩ.

Chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định, thời đại “ Hai Bà Trưng” Chính quyền nữ quyền đầu tiên của người Việt.

Tương truyền trong dân gian, khởi nghĩa mùa xuân năm 40 tháng lợi, Hai Bà Trưng xưng vương, đóng đô ở Mê Linh, khẳng định hoàn toàn uy quyền của nữ nhi bình thiên hạ vào lúc nhà Hán đang thời tịnh vượng nhất vẫn phải khiếp sợ, sức mạnh ý chí nữ nhi nước Nam.

Lúc nhà Đông Hán quay lại xâm lược nước ta lần 2, tại thành Dền, Trương vương đã nhiều lần dành thắng lợi trước quân Mã Viện, làm quân thắng ta hao hụt một cách nhanh chống, trước tình thế nguy kịch Mã Viện “viên tướng lão luyện, nổi tiếng gian ác, lại lắm mưu nhiều kế, quen chinh chiến” mà phải nhận lấy thất bại, ô nhục trước quana nữ nhi và phải cầu thêm viện binh, sợ mất uy quyền của một nước lớn, thua nước nhỏ nhà Hán cường cũng cố lục lượng mạnh mẽ.

Mã Viện từ bỏ thành Dền chuyển sang tấn công thành Mê Linh, nhận được tin Trưng Vương, Trưng Nhị đem quân trở về Mê Linh, sự mưu trí và quyết đoán của hai Bà đã dập tắt ý đồ của Mã Viện, chiến thắng vang dội lần thứ hai, giải cứu thành trì nhanh chống làm ý chí của quân Hán suy giảm vô cùng. Mã Viện phải nhiều lần cầu cứu viện binh để đánh chiếm được Mê Linh bằng những thủ đoạn “đê hèn”.

Nhưng trong lòng dân tộc hình ảnh hai vị nữ anh hùng vẫn tương truyền mãi, hai nữ hùng là người mở ra bản hùng ca sử Việt, khẳng định đất nước ta có chủ quyền, có vua, đem lại quyền lợi cho nhân dân, tạo nên sức mạnh để chiến thắng quân xâm lược qua những vần thơ sau:

“Chị em nặng một lời nguyền

Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân

Ngàn Tây nối áng phong trần

Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên

Hồng quần nhẹ bước chinh yên

Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành”.

(Đại Nam quốc sử diễn ca)

Những vần thơ tuy đơn giản nhưng đã khẳng định mạnh mẽ vai trò to lớn của người phụ nữ trong xã hội nữ quyền, thuộc chế độ mẫu hệ, người phụ nữ là đứng đầu và mưu toan việc nước, giữ lấy bình yên cho dân tộc.

Tác giả dân gian không chỉ kể về giai thoại “Hai bà Trưng” nữ sĩ anh hùng mà còn gửi vào đó vấn đề của hôn nhân, gia đình, để phản ánh xã hội mẫu hệ đương thời, đó là người vợ giữ lấy quyền cho gia đình, quyết định mọi việc trọng sự, làm chủ ma chay cho chồng, khi kết hôn nam nhân còn phải về nhà ở của vợ.

Nên trong nhiều bản kể là chồng bà TrưngTrắc là Thi sách người huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ cuộc hôn nhân của hai người làm mạnh lên thế lực sĩ khí hai hùng quân chống ách đô hộ, giữa lúc mưu toan việc lớn Thi Sách bị lừa đên sự yến tiệc rồi bị sát hại dưới tay Tô Định thái thú quận Giao Chỉ, người cai trị bạo lực và hà khắc, tạp dịch nặng nề khiến nhân dân oán than, chỉ vì nghe nói Trưng Trắc khí sắc hơn người, nét đẹp kiều diễm, hắn đem quân đóng bên kia sông hỏi than sự tình rồi bài trò giết chết Thi Sách mong cướp được Trưng Trắc. Trước cảnh lầm than của nhân dân, người chồng bị ám hại, Trưng Trắc chiêu mộ binh sĩ dưới tướng cha mình, phất cờ khỏi nghĩa hỏi tội Tô Định, đình quyền phân xử, đòi lại công bằng, giải cảnh lầm than, lập nên triều đại.

Mở đầu bằng lễ tang chồng bên bờ sông Hát, đọc lời thề quyết chiến, giành lại sơn thà, trả nợ nước non, dựng lại cơ đồ, xin đặt nợ nước lên trên thù chồng, qua lời thề

“ Một xin rửa sạch nước thù

Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng

Ba kêu oan ức lòng chồng

Bốn xin vỏn vẹn sở công lệnh này”.

“ Tôi là con gái phụ nhân,

Thời loạn ơn chúng lập thân trợ đời “

Lời thề nặng nghĩa nước tình nhà, trả nợ nước non nặng hơn nghĩa vợ chồng, nên bà luôn uy quyền bất khuất hào dũng để làm quân giặc nhìn thôi phải mất khí thế nên mặc giáp phục bề thế xung trận “ Việc chiến trận phải quyền biến, nếu tự làm ta tiều tụy thì nhuệ khí ắc tan theo. Ta sẽ mặc giáp phục đẹp đẽ uy nghi, để dân trông thấy mà phấn khích, mà giặc thấy trông kinh hoàng”.

Một thời đại nữ nhi đòi nước phục thìu nhà, một thời giữ nước trường kì, Hai Bà Trưng là những bậc nữ danh tướng đầu tiên đã có công giương cao ngọn cờ chống chủ nghĩa xâm lược phương bắc. Thời đại lịch sử Hai Bà Trưng đã để lại những dấu ấn rất sâu sắc trong tình cảm và nhận thức về lịch sử chống xâm lăng anh dũng và ngoan cường của cả dân tộc mở ra những trang sử hào hùng về truyền thống về người nữ sĩ Việt.

Còn sự ra đời của Hai Bà Trưng là vấn đề mà chưa có lời giải đáp nào là sáng tỏa, hầu như không có nhiều nghiên cứu về sự ra đời này, nhưng phổ biến trong văn học dân gian là hai bản về sự ra đời ấy, có người kể như bà Man Thiện tuổi đã 40 đêm qua nằm mộng thấy hai ngôi sao bay vào họng nên hạ sinh ra hai cô con gái, có bản kể thì là “ bà Trần Thị Đoan ngoài 40, cùng chồng là Hùng Lạc tướng quân tuổi ngoài 60, một đêm nằm mơ thấy một đóa mẫu đơn trong cung trăng nở ra hai bông. Sau đó bà có mang, đến ngày mùng 1 tháng tám năm giáp Tuất, trời bỗng tối sầm, trong phòng thì có hương thơm ngào ngạt, khí lành tỏa sáng. Bà trở dạ sinh hai cô con gái mặt như gương ngọc, sắc tựa bình vàng, mày ngài mắt phượng, má phấn môi son, quả tựa tiên nữ chốn bồng lai”.

Hai bản kể về sự ra đời thần kì của hai vị nữ hùng, sự ra đời thần kì, và tác giả dân gian dựng nên để kể về lịch sử xã hội của dân tộc mà nó phát sinh mà điểm xuất phát là từ bản chất tâm lý tộc người thời hồng hoang mà dựng nên con người với sự sinh nở thần kì, chỉ biết có mẹ, có mẹ sẽ có con, vì người nguyên thủy hoàn toàn không biết được sự gần gũi giữa người đàn ông và người phụ nữ sẽ sinh con.

Một vấn đề thứ hai đó chính là trong xã hội nguyên thủy, chế độ mẫu hệ  nên đứa bé sinh ra hoàn toàn chỉ biết người mẹ, không biết người cha là ai.

Cùng quan điểm trên được rút ra theo Propp motif sự ra đời thần kì là do những “ý niệm” nguyên thủy bằng cách phân tích cấu tạo và ý nghĩa của motif sinh đẻ thần kỳ. Motif đặc trưng, phổ biến trong truyện kể dân gian thế giới, motif này xuất hiện không chỉ trong truyện cổ tích thần kỳ mà cả trong thần thoại, truyền thuyết và thậm chí là trong sử thi về các nhân vật anh hùng, dũng sĩ…Motif lí giải sự ra đời hay xuất hiện thần kì vì sự thụ thai có tính thần kỳ mà Propp đưa ra trong bài viết của mình là: thụ thai do ăn trái cây, do cầu nguyện, do uống nước, do người chết đầu thai, do người mẹ ăn phần thân thể còn lại của người chết… Hay thụ thai do tiếp xúc, đụng chạm, do nuốt giọt máu hay cục máu đông, do nuốt ngọc trai hoặc đá, do ánh nắng mặt trời hoặc nước mưa, do thức ăn của cầm thú hoặc trứng, đặc biệt còn có hình thức người vợ thụ thai do ăn hai cọng cỏ mọc trên mộ chồng và sinh ra được hai đứa con trai hay một cô gái mang thai khi thần chết bước vào lều của cô và bé gái mà cô sinh ra chính là con của thần chết, còn nếu quy theo truyện kể Hai bà Trưng thì đó là sự nằm mộng thần tiên ban thưởng cho hai cô con gái, xuất phát từ ý niệm trong tư tưởng chế độ mẫu hệ mà sản sinh ra.

Kết thúc của giai thoại nữ hùng đất Việt “Hai Bà Trưng” đó là sự giải thoát của hai Bà sau khi thất bại tại cuộc khởi nghĩa là motif tự tử, nhân gian tương truyền “Hai Bà cùng nữ sĩ của mình gieo mình xuống sông Hát để giữ khí tiết anh dũng”, còn dị bản là hai Bà sinh ra bằng “giấc mộng thần kì” nên khi thất bại tại khởi nghĩa, hai Bà hóa thân thành “hai vải lụa đỏ và bay về trời” đó là hình ảnh lí tưởng của dân gian về người anh hùng của họ, khi đã hoàn thành thử thách để chứng minh những phẩm tính về sức mạnh cũng như nhiệm vụ của mình, về ý chí, tình cảm của con người trước thế giới và xã hội. Vượt qua thử thách, cũng là tiêu chuẩn để đứng đầu trong các anh hùng bộ lạc nguyên thủy. Thử thách càng nặng nề thì thành quả đạt được càng có giá trị.

 Motif tử tử “gieo mình xuống sông Hát” xuất phát từ “ý niệm” hay “ý thức” nhân văn mang tính cộng đồng nhân vật gieo mình xuống sông thể hiện về hành vi đầy nghĩa khí. Ý thức này mang tính chất của cổ mẫu, từ huyền thoại, cổ tích, làm thỏa mãn tâm lí tập thể khi nhìn và gửi mong muốn của họ trong quan niệm nhân sinh.

Giai thoại nữ hùng đất Việt “Hai Bà Trưng”, cho ta thấy nên tảng xã hội nguyên thủy ngay từ đầu con người có ý thức về thế giới, quan niệm nhân sinh về hình tượng anh hùng, con người lí tưởng của xã hội cổ đại.

 Giai thoại không chỉ kể về chiến công hiển thách mà còn là trục tư tưởng nữ quyền về chế độ mẫu hệ, người phụ nữ có địa vị cao cả và thiêng liêng.

Ý thức chống ngoại xâm là một trong những dòng chảy mạnh mẽ nhất của suối nguồn lịch sử dân tộc, kể cả phụ nữ ý chí cũng chẳng bao giờ khuất, phụ nữ chân yếu tay mềm dám đứng lên làm nữ tướng, dù là tầng lớp nào cũng là dân Việt, không chịu sống quỳ, không chấp nhận sự bảo hộ. Từ giai thoại “Hai Bà Trưng” là người trẻ ta cần học nhiều điều, đơn giản là học tập để lao động tốt hơn đúng với tính chất thời cuộc.

Là người trẻ khi tiếp xúc với các giai thoại, còn nhiều diều sơ xót, vì giai thoại vấn đề lịch sử xa xưa, chuyện kể thì sẽ có nhiều dị bản, cách cảm nhận và nhận thức cũng có đôi điều khác nhau do tính chất tư liệu tham khảo, cũng như sự liên tưởng cảm nhận cá nhân, là một bài viết mang tính chất cá nhân cũng không tránh được thiếu sót, nên người viết luôn mong sự ủng hộ, phê bình, đóng góp của người đọc” 

Tác giả Trần Thanh Điền – Nguồn: Văn Học 365

(*) Bản quyền bài viết thuộc về VH365. Khi chia sẻ, cần phải trích dẫn nguồn đầy đủ tên tác giả và nguồn

Đam mê Văn Học – Gửi bài viết TẠI ĐÂY