“Hồn Trương Ba, Da Hàng Thịt” – Bi Kịch Của Con Người

 “Cuộc sống có hai bi kịch. Một là không lấy được điều mà mình khát khao, và hai là lấy được nó.”
-Socrates-

Nói đến bi kịch, đây là vấn đề nhân sinh muôn thuở trong cuộc sống của con người.
Đã có biết bao nhiêu tác phẩm chất chứa bi kịch của con người, và trong số đó không thể không kể đến “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ, một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Từ cốt truyện dân gian, một thể loại bao giờ cũng viên mãn với những cái kết có hậu, Lưu Quang Vũ đã lật ngược lại vấn đề trong vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” và mang đến những tư tưởng mới mẻ với triết lí nhân sinh sâu sắc.

Bi kịch là một trạng thái tiêu cực, tuyệt vọng, lâm vào đường cùng, là nỗi đau đớn tủi cực đến tột cùng nhưng không sao thoát khỏi được, nó xuất phát từ xung đột gay gắt giữa khát vọng của con người với thực tại. Thực tại chưa đủ điều kiện cho cá nhân thực hiện khát vọng, lý tưởng của mình nên rơi vào thất bại, thậm chí dẫn đến cái chết thảm thương. Trương Ba là nhân vật của bi kịch như thế. Ngay từ nhan đề của vở kịch đã ngầm chứa đựng một nghịch cảnh trớ trêu, một nghịch lý mang ý vị nhân sinh sâu sắc mà càng khám phá ta càng không khỏi rùng mình trước vấn đề tha hóa của con người đang gặm nhấm và bào mòn nhân cách.

Xung đột  kịch của “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là sự đối chọi gay gắt giữa thể xác và linh hồn mà đã đáng lẽ ra phải là một thể thống nhất trong mỗi con người . Nhưng ở đây linh hồn thanh cao của Trương Ba đang phải trú ngụ trong thân xác của anh hàng thịt mà đau đớn hơn nữa chính là hồn Trương Ba đang ngày càng bị xác lấn áp và sai khiến. Để rồi khi nhận ra mình đang dần bị tha hóa, Trương Ba đau khổ và thấy chán ghét chính bản thân mình. Nguyên nhân dẫn đến bi kịch này là bắt nguồn từ sự vô tâm và tắc trách của người nhà trời đã khiến Trương Ba chết một cách vô lý. Nhưng sự sửa sai oái ăm của Nam Tào và Bắc Đẩu khi nghe theo lời khuyên của Đế Thích nhằm trả lại công bằng cho Trương Ba lại đẩy Trương Ba vào một nghịch cảnh trớ trêu vô lý hơn. Trương Ba trước đây là một người làm vườn “nhân hậu, trong sạch, thẳng thắn, có thú vui tao nhã trí tuệ là chơi cờ”  phải  sống nhờ trong thân xác của hàng thịt vốn “thô lỗ, phũ phàng, dung tục, thèm ăn ngon, thèm rượu thịt”.  Ý thức được xung đột, hồn Trương Ba dằn vặt đau khổ và mong muốn được tồn tại độc lập, thoát khỏi cái thân xác này. Xác hàng thịt được miêu tả như một biểu tượng đáng sợ của hoàn cảnh sống dung tục : hình dáng kềnh càng thô lỗ, cái dạ dày đòi hỏi “mỗi bữa ăn 8 – 9 bát cơm”, những ham muốn thấp kém mà bất cứ con thú nào cũng có được và cả những dục vọng xấu xa. Hồn Trương Ba luôn phủ nhận sự lệ thuộc của linh hồn vào xác thịt và coi xác thịt là vẻ bề ngoài không có ý nghĩa, “không có tiếng nói, không có tư tưởng, không có cảm xúc”, chỉ là “xác thịt âm u đui mù”. Nhưng xác thịt âm u đui mù ấy lại có sức mạnh ghê gớm, có khả năng điều khiển, sai khiến linh hồn thanh cao của Trương Ba. Lời lẽ ti tiện, trân tráo nhưng đầy sức thuyết phục của xác hàng thịt đã ngày một lấn át hồn Trương Ba, khiến hồn trở nên đuối lí, bế tắc và đành nhập trở lại xác hàng thịt trong tuyệt vọng.

Không dừng lại ở đấy, cao trào của bi kịch là khi Trương Ba bị cự tuyệt bởi những người thân. Đầu tiên là người vợ đã hơn mấy chục năm gắn bó. Với một trái tim vị tha nhân hậu, bà thấu hiểu và sót thương với hoàn cảnh bế tắc của chồng mình nhưng vẫn khó có thể đối diện với người chồng đang ngày càng trở thành một người khác, một nhân bản của thân xác đồ tể kia. Tiếp đến là người con dâu sâu sắc, chín chắn, hiểu điều hơn lẽ thiệt nhưng cũng đã hiểu được hiện thực, “Thầy bảo con: Cái bên ngoài là không đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy ơi, con sợ lắm, bởi con cảm thấy… mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần… có lúc chính con cũng không nhận ra thầy nữa”. Cái Gái cháu ông cũng đã phản ứng dữ dội quyết liệt nhất. Tâm hồn trong sáng ngây thơ của một đứa trẻ không chấp nhận những dàn xếp trái tự nhiên của thế giới thần tiên, không chấp nhận những thỏa hiệp của thế giới người lớn, không chấp nhận sự giả dối dung tục quái gở của cái gọi là “hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Sau đó, Lưu Quang Vũ đã để lại Hồn Trương Ba trơ trọi một mình tự độc thoại với nỗi đau khổ tuyệt vọng lên đến đỉnh điểm: “Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác không phải của ta ạ, mày đã tìm được đủ mọi cách để lấn át ta”. Từ một người làm vườn khéo léo ngày xưa nay trở nên vụng về, thô lỗ, ham muốn những món như tiết canh, cổ hũ, khẩu đuôi theo khẩu vị của xác thịt, “tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực, cổ nghẹn lại” khi đứng cạnh vợ hàng thịt. Có thể nói thân xác dung tục của hàng thịt đã thực sự lấn át sự cao khiết của hồn Trương Ba. Một khi đã chấp nhận được  sống vay mượn, cuộc sống không phải của chính mình, vì sự đánh đổi cho một mưu cầu nào đó, con người rất khó thoát khỏi cái sự chi phối của hoàn cảnh sống ấy. Đi từ sự tuyệt vọng khi  đắng cay thừa nhận sự thất bại của linh hồn trước sự đồng hóa của thân xác đến sự phản kháng và thách thức: “Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày mà tự đánh mất mình? … Có thật không còn cách nào khác? Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần!” Giọng điệu quyết liệt đã thể hiện sự vực dậy tinh thần, phản kháng và khao khát được tìm lại chính mình. Đây là lời độc thoại có tính chất quyết định dẫn tới hành động châm hương gọi Đế Thích một cách dứt khoát. Lưu Quang Vũ đã thể hiện được nỗi đau khổ và giằng xé trong nội tâm nhân vật Trương Ba qua ngôn ngữ độc thoại với sự kết hợp giữa hình thức câu khẳng định, phủ định và nghi vấn. Lời thoại qua chát nhưng cũng đầy quyết liệt đã thể hiện sự đấu tranh trước bi kịch của bản thân, nó như một cách tự phản tỉnh trong nội tâm của Trương Ba mong muốn giữ lại được phẩm chất tốt đẹp của mình.

Vì không chấp nhận bi kịch “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”, hồn Trương Ba đã quyết định châm hương gọi Đế Thích. Đứng trước bi kịch phải lựa chọn giữa từ sống và cái chết, Trương Ba đã chấp nhận được chết để trả lại xác cho anh hàng thịt. Bất chấp sự thuyết phục của Đế Thích, sự thật đau đớn của cái chết, Trương Ba kiên quyết không chấp nhận tấm bi kịch của một cuộc sống giả dối đáng xấu hổ. Cái chết của ông là do sự nhầm lẫn tai hại của người nhà trời, ông được hoàn hồn trong một thân xác khác cũng là xuất phát từ thiện ý sửa sai của họ. Nhưng theo ông, “Có những cái sai không thể sửa được. Chấp vá gượng ép chỉ càng làm sai thêm”. Từ đấy sự do dự bị đẩy lùi, bị xua tan. Sự tỉnh ngộ của hồn Trương Ba tuy muộn màng nhưng thật có nhiều ý nghĩa. Con đường tự giải thoát, linh hồn đã nhìn thấy ánh sáng.Sự sống chỉ có ý nghĩa khi hồn được sống trong chính thân xác đích thực của mình. Nên Trương Ba đã chấp nhận cái chết vĩnh viễn để được sống là mình toàn vẹn, sống mãi trong lòng những người thân. Một cái chết làm sáng lên nhân cách cao đẹp của Trương Ba, thể hiện sự chiến thắng của cái thiện, cái đẹp và sự sống đích thực.

Tác phẩm không chỉ khiến người đọc ngậm ngùi về bi kịch và khát vọng của nhân vật Trương Ba mà còn là thông điệp tư tưởng Lưu Quang Vũ muốn gửi gắm. Được sống làm người thì quý giá thật nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn với những giá trị mình vốn có và theo đuổi còn quý giá hơn. Con người ta luôn đang trên đà chạy theo những giá trị bên ngoài, vật chất để rồi tự rơi vào chính cái bi kịch của bản thân. Sự sống chỉ thực sự sự có ý nghĩa khi con người người có sự thống nhất hài hòa giữa thể xác và linh hồn, giữa bản chất và biểu hiện, giữa bên trong và bên ngoài. Không thể có một tâm hồn thanh quýbên trong một thân xác thô phàm. Vì vậy con người phải luôn biết đấu tranh với nghịch cảnh, với chính bản thân, chống lại sự dung tục để hoàn thiện nhân cách cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý.

Nhà phê bình Ngô Thảo đã từng nhận xét rằng: “Bóng ma của tài năng Lưu Quang Vũ đã trùm lên che mát cho cả một vùng sân khấu rộng lớn trải dài theo chiều dài đất nước trong một thập niên”

[Tác giả: Nguyễn Phạm Thanh Hương – Nguồn: Văn học 365

(*) Bản quyền bài viết thuộc về VH365. Khi chia sẻ, cần phải trích dẫn nguồn đầy đủ tên tác giả và nguồn

Đam mê Văn Học – Gửi bài viết TẠI ĐÂY]