Ông Già Và Biển Cả – Ernest Hemingway

Hemingway sống xuyên qua cả hai cuộc chiến tranh khủng khiếp nhất, cuộc chiến tranh thế giới thứ I (1914 – 1918) và cuộc chiến tranh thế giới thứ II (1937 – 1945).  Đây là một thời kì biến động kéo dài và tác động sâu sắc đến con người nhà văn.

Xuất thân từ nghề viết báo nhưng ông tình nguyện tham gia vào Quân đội Mỹ để chứng kiến những hoạt động trong Chiến tranh thế giới I.  Sau đó, Hemingway rời nước Mỹ đến châu Âu rồi tham gia chống quân Đức xâm lược trong hàng ngũ quân đội Ý.  Ông kết thúc quãng đời chiến sĩ tình nguyện này với 247 mảnh đạn đại bác trên mình và lưu lại Pháp cho đến năm 1925.

Năm 1936, cuộc nội chiến Tây Ban Nha diễn ra, Hemingway làm phóng viên về nội chiến Tây Ban Nha cho tờ North American Newspaper Alliance (Liên minh Báo chí Bắc Mỹ).

Hoa Kỳ tham gia Chiến tranh thế giới II vào ngày 8 tháng 12, 1941, và lần đầu tiên trong cuộc đời mình, Hemingway tham gia chiến đấu trong hàng ngũ hải quân.

Các cây bút bình luận văn học phương Tây thường nói đến Hemingway như một nhà văn kì dị, “con người với nước da rám nắng và bộ râu trắng bạc, từng đi khắp năm châu mang bên mình một khẩu sung Carabin nhiều hơn là một cây bút máy hoặc một cái máy đánh chữ. ” Sống trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động với chiến tranh xảy ra liên tục, Hemingway đã chứng kiến biết bao số phận đau khổ, những cuộc đời bị chiến tranh cướp mất.  Ông tìm được sự đồng cảm với những số phận nhỏ bé, yếu thế và chọn họ làm hình mẫu sáng tác.  Đi nhiều, viết nhiều nên những sáng tác của Hemingway thường ngắn gọn, súc tích, ông viết về những con người khắc kỉ và ông ca ngợi sự mạnh mẽ không hề yếu đuối của họ [4, 5].

Gia đình

Hemingway là người con trai đầu tiên và là người con thứ hai mà ông Clarence Edmonds “Doc Ed” Hemingway  một bác sĩ làng và bà Grace Hall đã sinh ra.  Cha của Hemingway rất chú ý tới sự ra đời của Ernest và đã thổi tù và ngay tại hành lang trước nhà để thông báo cho những người hàng xóm rằng vợ ông vừa sinh ra một cậu con trai.  Gia đình Hemingway sống trong một ngôi nhà sáu phòng ngủ theo lối Victoria được xây dựng bởi người ông ngoại góa vợ của Ernest, Ernest Miller Hall, một người Anh nhập cư, từng là quân nhân trong cuộc Nội chiến Mỹ (American Civil War) và đã chung sống với gia đình khi còn sống.  Hemingway có tên trùng với người ông ngoại này của mình [5].

Mẹ của Hemingway trước kia mong muốn được trở thành nghệ sĩ opera và đã kiếm tiền để đi học thanh nhạc.  Bà là người độc đoán và rất sùng đạo, phản ánh cho quan niệm đạo đức mang tính nghiêm ngặt của người theo đạo Tin lành tại Oak Park, mà Hemingway sau này đã nhận định rằng có “những bãi cỏ rộng và những tư tưởng hẹp hòi” (“wide lawns and narrow minds”).  Hemingway sau đó đi đến kết luận rằng mẹ ông đã chi phối bố ông tồi tệ đến mức bà đã hủy hoại ông.  Những người khác cho rằng bà bị rối loạn thần kinh chức năng.  Nhà thơ nổi tiếng Wallace Stevens đã đề cập đến trong một bức thư rằng Hemingway là người duy nhất mà ông từng gặp “thực sự ghét mẹ của mình” (“truly hated his own mother”). Tại The Hemingway Resource Center (Trung tâm Tài Nguyên Hemingway).  Trong khi mẹ ông hi vọng rằng con trai của bà sẽ bộc lộ sự hứng thú đối với âm nhạc, Hemingway lại thừa hưởng từ cha mình những sở thích như đi săn, câu cá và cắm trại trong những khu rừng và hồ vùng Bắc Michigan.  Gia đình ông sở hữu một ngôi nhà có tên Windemere trên Walloon Lake, gần Petoskey, Michigan và thường nghỉ hè tại đó.  Những trải nghiệm đầu đời khi sống gần gũi với thiên nhiên này đã truyền cho Hemingway một niềm đam mê suốt đời đối với những cuộc phiêu lưu ngoài trời và với cuộc sống trong những khu vực xa xôi, hẻo lánh [6].

Hemingway có 4 đời vợ.  Năm 1921, ở tuổi 22 tràn đầy sức lực và ham muốn tìm tòi những cái mới của cuộc đời, ông cưới người vợ đầu tiên của mình, đó chính là Hadley Richardson.  Năm 1927 ông li dị với người vợ đầu tiên để cưới Polina Pleifer – một cô gái người Mỹ xinh đẹp và giàu có.  Năm 1940 ông li dị Polina và cưới nữ nhà báo Martha Gelihorn.  Và theo ông thì, ở Martha, ông đã tìm thấy được cái mà Polina không thể có được.  Cả hai đều là nhà báo và nhà văn.  Martha cũng đã có cuốn tiểu thuyết “Điều đau khổ tôi đã nhìn thấy” được đánh giá cao.  Nhưng tình cảm say đắm và mãnh liệt đó của ông với nữ nhà báo Martha cũng tan biến khi ông bất chợt bắt gặp một nữ phóng viên khác là Mary Welsh.  Trái tim ông đã bị chinh phục từ cái nhìn đầu tiên của nàng.  Và nàng cũng thích ông.  Sau một tuần ông ngỏ lời cầu hôn Mary Welsh.  Và ông chăm sóc cho Mary rất chu đáo.  Ông viết thư và làm thơ tặng nàng.  Đây cũng chính là người vợ đã sống với ông cho đến những ngày ông đi vào thế giới vĩnh hằng [7].

Bản thân

Ngày 21 tháng 7 năm 1899, thị trấn nhỏ bé Oak Pak đón chào tiếng khóc đầu đời của một cậu bé mà sau này sẽ làm rạng danh cho nền văn học Mỹ.  Cậu bé đó là Ernest Hemingway.  Sinh ra trong một gia đình trung lưu, Hemingway chịu ảnh hưởng của cả cha lẫn mẹ.  Nhưng về sau thì ông càng thoát xa ảnh hưởng của cha mẹ ông.  Nếu những giai điệu tiết tấu từ những bản nhạc của người mẹ đã tạo ảnh hưởng đến tiết điệu ngôn từ của nhà văn Hemingway sau này, thì người cha lại khơi dậy trong chú bé Hemingway lòng yêu thiên nhiên, thú vui săn bắn nhưng không đam mê giết chóc và một lòng quả cảm tuyệt vời.  Hemingway còn chịu nhiều ảnh hưởng từ người cha cách giải thích sự vật, hiện tượng một cách cực kỳ đơn giản và hấp dẫn.  Điều này tạo nên dấu ấn riêng trong phong cách tự sự Hemingway.

Ngay từ khi còn học ở trường trung học, ông đã bắt đầu viết văn và tham gia vào các hoạt động báo chí của trường.  Năm 1917, ông rời trường trung học và thay vì đi học đại học ông tới thành phố Kansas làm phóng viên cho tờ báo Star.  Nhưng nghề phóng viên không hấp dẫn ông được lâu, do ưa thích mạo hiểm Hemingway đã tình nguyện đăng ký vào Hội đồng thập tự Hoa Kỳ và qua miền bắc nước Ý là tài xế xe cứu thương.  Đến năm 1919, Hemingway trở về Hoa Kỳ, ông được đón tiếp như một vị anh hùng song ông cảm thấy không thể nào hoà nhập vào không khí nơi đây.  Vào năm 1920, ông đến Chicago và cộng tác với tờ báo nổi tiếng “Diễn đàn Chicago”.  Tháng 12 – 1921, ông sang Pháp và có dịp tiếp xúc với nhiều văn nghệ sĩ Pari như Anderson, Getrrudestein…và chịu nhiều ảnh hưởng của họ khá rõ nét khi mới bắt đầu sáng tác [8].

Từ 1922, chủ nghĩa phát xít Mussolini thắng thế ở Ý, Hemingway là một trong những nhà văn sớm nhận ra tai họa của chủ nghĩa phát xít.  Lúc bấy giờ có nhiều phóng viên Âu – Mỹ xem Mussolini là chính khách lớn.  Trái lại, Hemingway miêu tả Mussolini là tên mị dân đã che dấu những âm mưu xấu xa bằng chủ nghĩa yêu nước giả dối và thực sự là ngốc cho những ai đem so sánh “hắn ta” với Napoleon.  Mặt khác, ông cũng không đồng ý với những ai đánh giá thấp “hắn ta”.  Năm 1936, Hemingway tới Tây Ban Nha làm phóng viên về nội chiến Tây Ban Nha cho tờ North American Newspaper Alliance (Liên Minh Báo chí Bắc Mỹ).  Đại chiến thế giới lần thứ II bùng nổ, ông sang Pháp sung vào một đội du kích và được vinh dự là một trong những chiến sĩ đầu tiên trở về thành phố Paris giải phóng.  Sau chiến tranh ông sang sống một thời gian dài ở Cuba.  Ông đón chào cách mạng Cuba với nhiệt tình của một nhà văn yêu chuộng chính nghĩa và một người bạn thân thiết của người dân Cuba [9, 6].

Ngày 2 tháng 7 năm 1961, cả thế giới bàng hoàng trước tin Hemingway – “một con người có thể bị huỷ diệt nhưng không thể bị khuất phục” – đã tự sát bằng khẩu súng săn của mình.  Trong suốt 62 năm tồn tại, nhà văn, nhà báo đồng thời cũng là người chiến sĩ Hemingway đã gióng lên hồi chuông ngợi ca lòng dũng cảm phê phán cái xấu trong cuộc đời.  Giữa những làn khói đạn ngất trời, Hemingway đã làm đẹp con người.  Giữa biển sóng mù khơi, Hemingway tôn vinh giá trị con người.  Và như ngôi sao chổi băng qua thế kỷ XX, Hemingway đã đi vào lịch sử văn học như một huyền thoại giữa cuộc đời thường.

Các tác phẩm tiêu biểu

Hơn 40 năm sáng tác, Hemingway đã để lại một số lượng lớn các tác phẩm có giá trị mang tính thời đại và con người.  Có thể kể đến tập truyện ngắn Trong thời đại của chúng ta (tựa gốc: In Our Time) của ông được xuất bản năm 1925, Mặt trời vẫn mọc (1926), Giã từ vũ khí (1929),  Winner Take Nothing (Kẻ thắng chẳng được gì) (1933), To Have and Have Not (Có và không có) (1937) …

The Sun also rises (Mặt trời vẫn mọc) (1927) là quyển tiểu thuyết quan trọng đầu tiên bởi Ernerst Hemingway.  Xuất bản vào năm 1926, nội dung tập trung vào một nhóm kiều bào sống tha hương người Mỹ và người Anh tại lục địa Âu Châu trong thập niên 1920.  Câu chuyện đi theo nhóm này từ Paris đến lễ hội đấu bò tại Pamploma.  Tựa đề nguyên thủy của tác phẩm này đã là Fiesta, vốn được dùng trong ấn bản tiêu thụ tại Anh Quốc, Đức, Nga, Ý, Tiệp Khắc và Tây Ban Nha [9].

For Whom the Bell Tolls (Chuông nguyện hồn ai) được xuất bản vào năm 1940, kể về câu chuyện của Robert Jordan, một thanh niên Hoa Kỳ trẻ trong đội quân của những người tình nguyện chống lại chủ nghĩa Phát Xít và sự gắn bó của anh với một toán quân Cộng Hòa du kích trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha.  Là một chuyên gia về thuốc nổ, anh được giao nhiệm vụ làm nổ một cây cầu trong một cuộc tấn công thành phố Segovia.  Cuốn tiểu thuyết này được nhìn nhận là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Hemingway [11].

Năm 1954 ông được viện Hàn lâm Thụy Điển trao tặng giải Nobel văn học “vì thể văn mạnh mẽ dùng trong nghệ thuật kể chuyện mới lạ và thể hiện gần đây nhất qua tác phẩm “Ông Già và Biển Cả

“.  The Old Man and the Sea (Ông Già và Biển Cả) được viết tại Cuba vào năm 1951 và xuất bản vào năm 1952.  Đây là tác phẩm quan trọng cuối cùng trong loạt truyện hư cấu được sáng tác bởi Hemingway.  Câu chuyện tập trung vào nhân vật Santiago, một ngư dân lớn tuổi gốc Cuba, người phải vật lộn với một con cá Kiếm không lồ ngoài biển khơi.  Thiên tiểu thuyết này đã nêu lên những nét rất sâu sắc và cảm động về sức mạnh và lòng khao khát của con người.  Nhiều trang viết của Ông già và biển cả có một phong cách độc đáo, giàu chất thơ và triết lý gợi cho người đọc suy nghĩ đến nhiều vấn đề về cuộc sống và về số phận con người trong cái xã hội còn có những ông già đánh cá sống nghèo đói và cô độc như ông lão Santiago [10].

Tác phẩm “The old man and the sea”

  1. Ý nghĩa nhan đề

Ông già và biển cả là một nhan đề ngắn gọn nhưng bao quát hết toàn bộ nội dung tác phẩm.  Nhan đề ấy ngụ ý nhắc đến chuyến đi biển dài ba ngày hai đêm của ông lãoXantiagô

.  Đây là chuyến đi biển cuối cùng của một lão già với mong ước mong manh rằng: lần đi biển này, ông lão sẽ bắt đựơc một con cá to.  Niềm mong ước mong manh ấy đã vô tình gặp được vận may và bất ngờ trở thành hiện thực.  Một con cá Kiếm đã cắn câu.  Ông lão vội vàng thu dây, kéo nó vào thuyền.  Nhưng, đó mới chỉ là khỏi đầu.  Hành trình chinh phục cá Kiếm to nhất đời, đẹp nhất đời là một hành trình vô cùng gian khổ.  Đến cuối cùng, lão Xantiagô chỉ kéo được bộ xương cá về sau khi đã mệt mỏi đến kiệt sức để thu phục cá Kiếm và chiến đấu chống đàn cá mập.  “Ông già và biển cả” là một nhan đề có sức khơi gợi sâu xa.  Trong cái nhan đề ấy dường như muốn nói đến ước mơ,  khát vọng của con người trong cuộc đời rộng lớn.  Trước biển đời,  con ngừơi ta như một lữ khách cô đơn, già nua, phải vắt kiệt sức để chống chọi với bão tố cuộc đời, để tự đứng lên, khẳng định vị thế của mình trong xã hội.  Ngoài ra, tự nhan đề tác phẩm đã nói lên sự đối kháng quyết liệt: Ông già già yếu, cô độc còn biển cả thì mêng mông, hung dữ, rộng lớn vô bờ.  Con người đối lập với biền khơi bởi một bên quá ư bé nhỏ còn một bên lại rộng lớn khôn cùng.  Song Hemingway lại nói “Ông già và biển cả”, tức là muốn đem con người đặt ngang hàng với thiên nhiên, tạo vật.  Khẳng định tư thế chủ động của con người trước thiên nhiên và trước cuộc đời đầy khó khăn, phức tạp, biến hóa khôn lường.

  1.  Tóm tắt tác phẩm

Tác phẩm được nhà văn Hemingway sáng tác năm 1952, tác phẩm Ông già và biển cả kể về ông già Xan-ti-a-gô, 74 tuổi, làm nghề đánh cá.  Ông mơ ước đánh được một mẻ cá lớn, xứng đáng với uy danh của ông thời còn trai trẻ.  Một mình một con thuyền ông ra khơi quyết lập một chiến công rạng rỡ cuối cùng.  Thế nhưng, đã đi biển nhiều ngày mà ông chẳng kiếm được con cá lớn nào.  Những ngày đầu còn có cậu bé láng giềng Ma-nô-lin đi cùng nhưng vì thấy ông thường kém may mắn nên bố mẹ Ma-nô-lin buộc cậu đi theo thuyền khác.  Một mình ra khơi, giữa biển cả, ông thả dây câu chờ đợi rất lâu, có lúc tưởng chừng hoàn toàn thất vọng.  Đêm ngủ, lão mơ về thời trai trẻ với tiếng sóng gào, hương vị biển, những con tàu và đàn sư tử.  Rồi một con cá Kiếm rất lớn đã mắc câu, và lôi thuyền ra rất xa.  Đã qua một ngày mà con cá chưa nổi lên, ông phải cắt bớt dây câu nối vào một con cá khác mắc mồi để giữ con cá lớn.  Nhiều lần ông ước có Ma-nô-lin giúp một tay.  Có lần con cá quẫy mạnh kéo giật ông lão ngã dập xuống sàn thuyền làm toạc da phía đuôi mắt.  Hai bàn tay ứa máu vì sợi dây cứa mạnh.  Chiều hôm sau con cá bỗng ngoi lên mặt nước rồi lặn xuống.  Chưa bao giờ ông thấy một con cá Kiếm to như vậy, một con cá hùng dũng mà ông hằng mơ ước.  Sau nhiều lần vật lộn quyết liệt, nguy hiểm, ông lão dùng lao cắm phập vào con cá và giết được nó.  Ông buộc xác con cá vào mũi thuyền và bơi vào bờ.  Trên đường về, hết đàn cá mập này đến bầy cá mập hung dữ khác đuổi theo rỉa thịt con cá Kiếm.  Dù phải đơn độc chiến đấu đến kiệt sức với lũ cá mập, ông lão vẫn nghĩ “không một ai cô đơn nơi biển cả”.  Khi ông già mệt mỏi rã rời vào đến bờ, thì con cá Kiếm “dài hơn chiếc thuyền có tới sáu bảy tấc kia” chỉ còn trơ bộ xương…Đêm hôm thứ ba, lão vác cột buồm trên vai trở về lều, nằm vật xuống giường, chìm vào giấc ngủ rồi mơ về những con sư tử.  Bên chiếc thuyền xương sống của con cá Kiếm kẻ thành một đường thẳng trơ trụi…

PHÂN TÍCH

Nhân vật Xan-ti-a-gô

Nhân vật trung tâm của các phẩm là ông lão người Cuba, Xan-ti-a-gô, người đã cố gắng chiến đấu trong ba ngày đêm vật lộn với một con cá Kiếm khổng lồ trên biển vùng Giếng Lớn khi ông câu được nó.  Sang đến ngày thứ ba, ông dùng lao đâm chết được con cá, buộc nó vào mạn thuyền và lôi về nhưng đàn cá mập đánh hơi thấy đã lăn xả tới, ông lại đem hết sức tàn chống chọi với lũ cá mập, phóng lao, thậm chí cả mái chèo để đánh.  Ông giết được nhiều con, đuổi được chúng đi, nhưng cuối cùng khi nhìn đến con cá Kiếm của mình thì nó đã bị rỉa hết thịt chỉ còn trơ lại một bộ xương khổng lồ.

Ngoại hình, hoàn cảnh của nhân vật Xan-ti-a-gô:

Là người lao động lành nghề, có tâm hồn trong sáng, cao đẹp, có khát vọng lớn được thể hiện qua độc thoại nội tâm.

Luôn đặt con người đơn độc trước thử thách.

Con người phải vượt qua thử thách vượt qua giới hạn của mình để luôn vươn tới đạt được khác vọng của mình

Ông lão gầy gò, giơ cả xương, gáy hằn sâu nhiều nếp nhăn.  Những vệt nám vô hại trên làn da má của lão do bị ung thư bởi ánh mặt trời phản hồi trên mặt biển nhiệt đới.  Những vệt ấy kéo dài xuống cả hai bên má, tay lão hằn những vết sẹo sâu bởi kéo những con cá lớn.  Nhưng chẳng có vết nào trong số sẹo ấy còn mới cả.  Chúng cũ kỹ như mấy vệt xói mòn trên sa mạc không cá.  Mọi thứ trên cơ thể lão đều toát lên vẻ già nua, trừ đôi mắt; chúng có cùng màu với nước biển, vui vẻ và không hề thất bại.

Trong cuộc chiến với con cá, ông lão liên tục đối thoại với bản thân với mục đích giữ cho đầu óc tỉnh táo, bàn tay khỏi bị chuột rút, cơ thể khỏi bị đổ sập xuống vì cuộc chiến không cân sức.  Khẩu hiệu chiến đấu của lão là tổng động viên mọi bộ phận trong cơ thể: “Kéo đi, tay ơi, lão thầm giục.  Hãy đứng vững, đôi chân kia.  Tỉnh táo vì tao, đầu à.  Hãy tỉnh táo vì tao.  Bọn mày ch­ưa bao giờ bại trận.  Lần này ta sẽ lật đ­ược nó”.  Kết quả, nhờ vào ý chí và sự điêu luyện tay nghề, ông lão đã giết được con cá Kiếm.  Nhưng tâm trạng của ông lão không hoàn toàn phấn khích trước thành quả đó.

Phẩm chất của nhân vật Xan-ti-a-gô

Phẩm chất đáng quý nữa ở Xan-ti-a-gô là tính cách luôn hành động.  Có thể nói, ông lão là người không bao giờ chịu ngồi yên một chỗ để chờ vận may đến với mình.  Trong cuộc chiến đấu đó, một phần con cá cứ liên tục kéo nên ông lão phải căng hết người lên mà chống đỡ, phần khác là vì, bản thân ông lão là con người hành động.  Xan-ti-a-gô không chịu bó tay trước hoàn cảnh.  Sự vận động khẳng định tố chất muốn thể hiện giá trị tồn tại của con người, ngay cả khi sức lực đã già nua.  Hơn nữa, với Xan-ti-a-gô không hành động đồng nghĩa với việc chết.  Lão không muốn chết.  Do vậy, Xan-ti-a-gô luôn tồn tại trong thế động với các động tác của cơ thể, của tư duy cũng như của ngôn từ.

Khi sức khoẻ suy kiệt, Xan-ti-a-gô chiến đấu với con cá Kiếm bằng kinh nghiệm và sức mạnh tinh thần.  Kinh nghiệm chủ yếu được thể hiện bằng cảm giác.  Điều kì lạ là chỉ bằng cảm giác mà ông lão có thể xử lí hoàn hảo trước mọi động thái của con cá.  Điều này cho thấy tay nghề câu cá của ông lão đã vượt qua cả ngưỡng siêu việt.  Khai thác cảm giác này, Hemingway mới có điều kiện thuận lợi để xâm nhập sâu vào thế giới tư duy của nhân vật.  Nhờ đó mà độc thoại nội tâm của nhân vật đã trở thành phương tiện biểu đạt tính cách nhân vật một cách hoàn hảo, tài tình: “Đúng lúc đó lão cảm thấy một cú quật đột ngột và cú nảy mạnh ở sợi dây lão đang níu bằng cả hai tay.  Thật là sắc và cảm thấy cứng và nặng.

Nổi bật trong đoạn trích là hai cảm giác cơ bản của Xan-ti-a-gô: về sức khoẻ và về việc khuất phục con cá.  Văn bản xuất hiện hàng loạt câu đề cập đến các cảm giác này.  Người kể sử dụng hai thủ pháp ngôn từ để khắc hoạ.  Một là bằng chính ngôn ngữ của mình để miêu tả (“Nhưng lão lại cảm thấy choáng váng”, “Nhưng đã hai lần lão cảm thấy chóng mặt và choáng váng và điều ấy khiến lão sợ”, … ).  Hai là sử dụng ngôn ngữ của nhân vật (“Lượt tới nó lượn ra ta sẽ nghỉ”, lão nói.  “Ta cảm thấy đỡ hơn nhiều.  Chỉ hai ba vòng nữa thôi thì ta sẽ có nó”).

Không hề nản chí mà cứ miệt mài ra khơi với hi vọng bắt được con cá xứng đáng với tài nghệ lão.  Mục đích ban đầu của lão không phải vì những tiêu chí đánh giá của cộng đồng mà vì ý thức của lão muốn sống một cách tử tế theo cách riêng của lão.  Lão đã bắt được con cá mà ngay cả đến trong mơ lão cũng chưa từng gặp.  Con cá ấy lớn hơn bất cứ con cá nào trước đó được đưa vào cảng La Havana.

Xan-ti-a-gô cũng như các nhân vật thuộc “thế hệ mất mát” đều tin vào các giá trị xác thực, tin vào khả năng của chính bản thân mình.  Xan-ti-a-gô cầu Chúa giúp là chỉ giúp lão chịu đựng chứ không cầu giúp bắt con cá, có nghĩa lão ý thức được thành quả lao động là phải do chính tay con người làm ra chứ không thể có Chúa nào làm giúp cả.  Họ không tin vào những điều trừu tượng, hoa mĩ như những gì Kinh Thánh giảng dạy.  Do vậy, việc Xan-ti-a-gô hứa đọc kinh cầu Chúa giúp sức chỉ là một “phản xạ văn hoá” nhất thời (vì hằng bao thế kỉ, người phương Tây sống theo những quy chuẩn đạo đức Thiên Chúa giáo).  Bởi vì sau đó Xan-ti-a-gô không đọc mà lão thầm nhủ: xem như đã đọc rồi.  Sự bất tin ấy còn được đẩy đến mức bất kính.  Tập trung nhất là ở chi tiết sau khi giết chết con cá ông lão thấy “mắt nó trông dửng d­ưng như­ những tấm kính trong kính viễn vọng hay như­ một vị thánh trong đám rước”.

Không dựa vào Chúa, nhân vật của Hemingway dựa vào chính bản thân mình.  Đây là giá trị nhân văn vô cùng to lớn.  Xan-ti-a-gô đặt ra cho mình mục đích và cách sống.  Bây giờ lão đang đi gần đến cái đích; con cá sắp bị lão chinh phục.  Không có thế lực nào ngăn cản lão ngoại trừ chính bản thân lão.  Đến đây ta bắt gặp một ý tưởng độc đáo của nhà văn: con người trong cuộc khám phá, chinh phục chính bản thân mình.  Cuộc chinh phục của lão được tiến hành song song giữa hai đối tượng: đối tượng bên ngoài (con cá) và đối tượng bên trong (khả năng của thể trạng lão)..

Ngợi ca con cá và hành động trung thực, sòng phẳng của nó trong cuộc đối đầu với mình, Xan-ti-a-gô gợi cho người đọc ẩn ý thầm kín mà tác giả gửi gắm rằng trên đất liền ông lão không còn ai tri âm tri kỉ nữa, cuộc sống loài người đã bị đảo điên ghê gớm các chân giá trị.  Xan-ti-a-gô không thể và không còn thuộc về thế giới ấy.  Sự thẳng thắn, cao thượng của ông lão chỉ có thể tìm được sự tri âm ở chốn biển khơi.  Con cá là bạn lão, cũng như đại dương bao la mới đích thực là ngôi nhà thân thiết của con người cô độc Xan-ti-a-gô.  Giống như mọi nhân vật mã khác của mình, Hemingway kiến tạo một môi trường sống gần gũi với thiên nhiên cho nhân vật.  Chỉ quay về với thiên nhiên, nhân vật Hemingway mới tìm được sự lắng dịu tâm hồn, sự đồng cảm.  Mối quan hệ giữa ông lão và cá Kiếm thể hiện rõ điều này.

Trong chiến thắng của ông lão, không chỉ có mỗi sự nỗ lực vượt qua những đau đớn thể xác và tinh thần, mà còn có cả quá khứ và tất cả mọi thứ tốt và xấu trong chính con người lão: “Dồn hết mọi đớn đau và những gì còn lại của sức lực và lòng kiêu hãnh đã rời bỏ từ lâu, lão mang ra đ­ương đầu với cơn hấp hối của con cá và con cá tiến gần mạn thuyền, từ từ bơi nghiêng, mõm nó gần như­ chạm vào ván thuyền và sắp sửa v­ượt qua, dài, sâu, rộng, ánh bạc, vằn tía và bất tận trong dòng n­ước”.  Đớn đau, tàn lực và lòng kiêu hãnh của quá khứ được đặt liền kề.  Sức mạnh của Xan-ti-a-gô không phải là sức mạnh của người sung sức mà là sức mạnh của tổng thể những gì đã suy thoái.  Thế mà lão vẫn chiến thắng con cá.  Đấy chính là giá trị tiềm tàng mà chỉ con người mới có được trên hành trình khẳng định sự sống.

Ông lão Xan-ti-a-gô là một người như thế! Lão rất yêu đại dương.  Trong bóng tối, lão có thể cảm nhận bình minh đang đến; khi chèo, lão có thể nghe thấy những âm thanh run rẩy khi đàn cá chuồn rời khỏi mặt nước, cả tiếng lao xao phát ra từ bộ cánh cứng trong bóng đêm.  Lão thương lũ cá chuồn nhỏ nhoi như một người bầu bạn lúc cô đơn giữa biển, lão thương lũ chim nhạn biển mỏng manh, cứ bay đi và tìm kiếm mãi nhưng hầu như chẳng thấy gì…

Cuộc chiến của ông lão và con cá Kiếm

Hình ảnh con cá Kiếm

Con cá Kiếm toát lên vẻ đẹp dũng mãnh, hiên ngang đối diện với hiểm nguy rình rập.  Nó đã chiến đấu đến tận hơi thở cuối cùng, nó cũng giống như ông lão Xan-ti-a-gô, tận hết khả năng để khẳng định chính mình.  “Khi ấy, con cá mang cái chết trong mình, sực tỉnh, phóng vút lên khỏi mặt nước phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực.  Nó dường như treo lơ lửng trong không trung, phía trên ông lão và chiếc thuyền.  Thoáng chốc, nó rơi sầm xuống làm nước bắn tung, trùm lên cả ông lão lẫn con thuyền”.  Phải, nó là hiện thân của vẻ đẹp cao thượng, bởi ngay đến cái chết cũng phải chọn một cái chết đàng hoàng!

Diễn biến

Cuộc chiến của Xan-ti-a-gô với cá Kiếm diễn ra vô cùng gay cấn.  Để giành chiến thắng ta thấy Xan-ti-a-gô tiến hành lần lượt các bước sau:

– Thu dây để khiến con cá quay vòng.

– Cầu con cá đừng nhảy bởi sợ mất nó: “Đừng nhảy, cá”.  Lão nói.  “Đừng nhảy”.

– Cầu Chúa giúp bằng cách hứa đọc kinh: “Chúa giúp ta chịu đựng.  Ta sẽ đọc một trăm lần kinh Lạy Cha và một trăm lần kinh mừng Đức Mẹ”.

– Phân tích tình hình: “Mình phải giữ cho nó đừng đau quá, lão nghĩ.  Nỗi đau của ta thì không thành vấn đề.  Ta có thể chế ngự.  Nhưng nỗi đau của con cá thì có thể khiến nó cuồng lên”.
– Di chuyển được con cá: “Ta đã di chuyển được nó”.

– Động viên bản thân: “Kéo đi, tay ơi, lão thầm giục.  Hãy đứng vững, đôi chân kia.  Tỉnh táo vì tao, đầu à”.
– Tập trung sức lực: “Dồn hết mọi đớn đau và những gì còn lại của sức lực và lòng kiêu hãnh đã rời bỏ từ lâu, lão mang ra đương đầu với cơn hấp hối của con cá”.

– Phóng lao giết chết con cá.

Song song với diễn biến trên là quá trình suy kiệt sức lực của ông lão:

– Khi con cá bắt đầu lượn vòng, lão hãy còn đủ sức để kéo: “Lão chỉ cảm nhận áp lực của sợi dây hơi chùng lại và dùng tay phải, lão bắt đầu nhẹ nhàng kéo vào.  Sợi dây chững lại, như mọi khi, nhưng ngay lúc lão kéo đến điểm sắp đứt thì sợi dây bắt đầu thu vào.  Lão lách vai và đầu ra khỏi sợi dây và bắt đầu liên tục kéo nhẹ nhàng”.

– Nhưng rồi cứ phải ra sức níu sợi dây để buộc con cá phải quay vòng, sức lực lão suy kiệt nhanh chóng: “hai giờ sau, mồ hôi ướt đẫm người ông lão và lão mệt thấu xương”, “ông lão thấy hoa mắt suốt cả tiếng đồng hồ, mồ hôi xát muối vào mắt lão và xát muối lên vết cắt phía trên mắt và trán”, …

– Tiếp đó ông lão “lại cảm thấy choáng váng”, “toát mồ hôi đầm đìa nhưng không phải vì mặt trời mà vì một nguyên nhân khác”, “lão lại thấy xây xẩm mặt mày”, “miệng lão khô khốc không thể nói nổi, nhưng lúc này lão không thể với lấy cái chai”.

– Đỉnh điểm của việc kiệt sức là sự “lú lẫn đầu óc”.  Ông lão bước vào trạng thái chênh chao giữa sống và chết khi “lão nói bằng giọng mà bản thân hầu như không còn nghe nổi”. 

– Tại thời khắc đó, ông lão đã biết tự động viên kịp thời: “Hãy giữ đầu óc tỉnh táo và biết cách chịu đựng như một con người”, lão nghĩ.  Rồi lão kêu gọi: “Đầu ơi, hãy tỉnh táo”.  Bằng cách đó, từng phút giây, lão trở nên mạnh hơn con cá.

Dõi theo mạch trần thuật trên, ta thấy, diễn biến của trận đánh rất gay cấn, được tính theo từng vòng lượn của con cá và tính theo cả chút sức lực ít ỏi còn lại, dần hao mòn của ông lão: “Cứ cái đà này thì không ổn rồi, lão nghĩ.  Miệng lão khô khốc không thể nói nổi, nhưng lúc này lão không thể với lấy cái chai.  Lần này mình phải kéo nó cập mạn, lão nghĩ.  Cứ thêm vài vòng nữa thì mình sẽ đuối sức

Có lúc người đọc ngỡ như ông lão để mất con cá hoặc gục chết trước nó.  Thế nhưng, lần nào cũng vậy, lão biết cách xốc lại tinh thần kịp thời: “Lần này mình phải kéo nó cập mạn, lão nghĩ.  Cứ thêm vài vòng nữa thì mình sẽ đuối sức.  Không, mày khoẻ, lão tự nhủ.  Mày luôn khoẻ”.  Cuối cùng ông lão đã chiến thắng.  Một chiến thắng kì vĩ cho quyết tâm không thể gì lay chuyển.

Trong đoạn trích, cuộc chiến tập trung vào hai đối thủ đã rã rời thân xác.  Cả hai đã đấu sức với nhau ròng rã hai ngày đêm.  Bây giờ, kẻ nào không trụ vững, kẻ đó không tồn tại.  Do vậy ta thấy độ căng của diễn biến được tăng dần theo sự suy kiệt sức lực của hai đối thủ.  Trong lúc con cá dần ngoi lên (dấu hiệu của sự thúc thủ) thì ông lão nhiều lần suýt ngất.  Nhưng ông lão vẫn gượng dậy.  Cuối cùng con cá là kẻ bại trận

Hành động theo riêng mình

Xan-ti-a-gô là người gần như bị cộng đồng (chỉ còn mỗi thằng bé Manolin quan tâm) và bị cả tạo hoá bỏ rơi (không bắt được cá suốt 84 ngày), nhưng ông lão tin vào bản thân mình.  Chỉ cần lão bắt được cá thì mọi sự sẽ chấm dứt.  Ở đây tồn tại xung đột ngầm giữa một Xan-ti-a-gô bị loại bỏ ra khỏi cộng đồng và một Xan-ti-a-gô với cách thức tồn tại riêng của lão bên cộng đồng đó.

Lão hành động như sau: không hề nản chí mà cứ miệt mài ra khơi với hi vọng bắt được con cá xứng đáng với tài nghệ lão.  Mục đích ban đầu của lão không phải vì những tiêu chí đánh giá của cộng đồng mà vì ý thức của lão muốn sống một cách tử tế theo cách riêng của lão.  Lão đã bắt được con cá mà ngay cả đến trong mơ lão cũng chưa từng gặp.  Con cá ấy lớn hơn bất cứ con cá nào trước đó được đưa vào cảng La Havana.

Xan-ti-a-gô cũng như các nhân vật thuộc “thế hệ mất mát” đều tin vào các giá trị xác thực, tin vào khả năng của chính bản thân mình.  Xan-ti-a-gô cầu Chúa giúp là chỉ giúp lão chịu đựng chứ không cầu giúp bắt con cá, có nghĩa lão ý thức được thành quả lao động là phải do chính tay con người làm ra chứ không thể có Chúa nào làm giúp cả.  Họ không tin vào những điều trừu tượng, hoa mĩ như những gì Kinh Thánh giảng dạy.  Do vậy, việc Xan-ti-a-gô hứa đọc kinh cầu Chúa giúp sức chỉ là một “phản xạ văn hoá” nhất thời (vì hằng bao thế kỉ, người phương Tây sống theo những quy chuẩn đạo đức Thiên Chúa giáo).  Bởi vì sau đó Xan-ti-a-gô không đọc mà lão thầm nhủ: xem như đã đọc rồi.  Sự bất tin ấy còn được đẩy đến mức bất kính.  Tập trung nhất là ở chi tiết sau khi giết chết con cá ông lão thấy “mắt nó trông dửng dưng như những tấm kính trong kính viễn vọng hay như một vị thánh trong đám rước”.

Không dựa vào Chúa, nhân vật của Hemingway dựa vào chính bản thân mình.  Đây là giá trị nhân văn vô cùng to lớn.  Xan-ti-a-gô đặt ra cho mình mục đích và cách sống.  Bây giờ lão đang đi gần đến cái đích; con cá sắp bị lão chinh phục.  Không có thế lực nào ngăn cản lão ngoại trừ chính bản thân lão.  Đến đây ta bắt gặp một ý tưởng độc đáo của nhà văn: con người trong cuộc khám phá, chinh phục chính bản thân mình.  Cuộc chinh phục của lão được tiến hành song song giữa hai đối tượng: đối tượng bên ngoài (con cá) và đối tượng bên trong (khả năng của thể trạng lão).

Hemingway không thật sự tập trung vào việc để nhân vật chinh phục thế giới bên ngoài.  Tiêu điểm của ông hướng cả vào việc khai thác thái độ của nhân vật trước hoàn cảnh đó.  Với Hemingway, việc đánh một con cá lớn thì ai đó cũng có thể thực hiện được, nhưng qua việc đánh cá đó để kiểm định khả năng tồn tại và ý nghĩa sống của con người, thì chỉ có Xan-ti-a-gô thực hiện được mà thôi.

Từ quan niệm này, người đọc sẽ thấy Xan-ti-a-gô rất nhiều lần bộc lộ mình qua những đối thoại.  Trong cuộc chiến với con cá, ông lão liên tục đối thoại với bản thân với mục đích giữ cho đầu óc tỉnh táo, bàn tay khỏi bị chuột rút, cơ thể khỏi bị đổ sập xuống vì cuộc chiến không cân sức.  Khẩu hiệu chiến đấu của lão là tổng động viên mọi bộ phận trong cơ thể: “Kéo đi, tay ơi, lão thầm giục.  Hãy đứng vững, đôi chân kia.  Tỉnh táo vì tao, đầu à.  Hãy tỉnh táo vì tao.  Bọn mày chưa bao giờ bại trận.  Lần này ta sẽ lật được nó”.  Kết quả, nhờ vào ý chí và sự điêu luyện tay nghề, ông lão đã giết được con cá Kiếm.  Nhưng tâm trạng của ông lão không hoàn toàn phấn khích trước thành quả đó.

Cảm nhận của ông lão về con cá Kiếm

Trong cuộc chinh phục cá Kiếm, ông lão cảm nhận được vẻ oai hùng, sòng phẳng, cao thượng, …  của con cá nên cảm phục nó, xem nó là bạn, gọi nó là “người anh em”: “Mày đang giết tao, cá à, ông lão nghĩ.  Nh¬ưng mày có quyền làm như  thế.  Tao chưa bao giờ thấy bất kì ai hùng dũng, duyên dáng, bình tĩnh, cao thượng hơn mày, người anh em ạ.  Hãy đến và giết ta đi.  Ta không quan tâm chuyện ai giết ai”.  Khoảng cách của người chinh phục và kẻ bị chinh phục đã được rút đến điểm không.  Mối quan hệ giữa ông lão và cá Kiếm lúc này không đơn thuần là quan hệ triệt tiêu một chiều mà là mối quan hệ đa diện phức tạp.

Ngợi ca con cá và hành động trung thực, sòng phẳng của nó trong cuộc đối đầu với mình, Xan-ti-a-gô gợi cho người đọc ẩn ý thầm kín mà tác giả gửi gắm rằng trên đất liền ông lão không còn ai tri âm tri kỉ nữa, cuộc sống loài người đã bị đảo điên ghê gớm các chân giá trị.  Xan-ti-a-gô không thể và không còn thuộc về thế giới ấy.  Sự thẳng thắn, cao thượng của ông lão chỉ có thể tìm được sự tri âm ở chốn biển khơi.  Con cá là bạn lão, cũng như đại dương bao la mới đích thực là ngôi nhà thân thiết của con người cô độc Xan-ti-a-gô.  Giống như mọi nhân vật mã khác của mình, Hemingway kiến tạo một môi trường sống gần gũi với thiên nhiên cho nhân vật.  Chỉ quay về với thiên nhiên, nhân vật Hemingway mới tìm được sự lắng dịu tâm hồn, sự đồng cảm.  Mối quan hệ giữa ông lão và cá Kiếm thể hiện rõ điều này.

Ông lão cố thêm một lần nữa.

Để vượt qua con cá và qua những phức cảm trong tâm hồn, ông lão chỉ còn cách “cố thêm lần nữa”.  “Cố gắng” chính là nền tảng thành công của ông lão.  Văn bản thường xuyên lặp lại mệnh đề này bằng ngôn ngữ của người kể và ngôn ngữ của chính Xan-ti-a-gô:

– Mình sẽ cố thêm lần nữa.

– Lão cố thêm lần nữa.

– Mình sẽ lại cố thêm.

– Lão lại cố và mọi chuyện vẫn như cũ.

– Mình sẽ lại cố thêm một lần nữa…

Cứ một lần cố, ông lão đến gần hơn với chiến thắng.  Sau một lần cố, con cá thêm một lần thất thế trước lão.  Sự thành công của lão và sự thành công của con người nói chung phải chăng là nhờ những nỗ lực không ngừng trong cuộc đời?

Trong chiến thắng của ông lão, không chỉ có mỗi sự nỗ lực vượt qua những đau đớn thể xác và tinh thần, mà còn có cả quá khứ và tất cả mọi thứ tốt và xấu trong chính con người lão: “Dồn hết mọi đớn đau và những gì còn lại của sức lực và lòng kiêu hãnh đã rời bỏ từ lâu, lão mang ra đ¬ương đầu với cơn hấp hối của con cá và con cá tiến gần mạn thuyền, từ từ bơi nghiêng, mõm nó gần như¬ chạm vào ván thuyền và sắp sửa vượt qua, dài, sâu, rộng, ánh bạc, vằn tía và bất tận trong dòng n¬ước”.  Đớn đau, tàn lực và lòng kiêu hãnh của quá khứ được đặt liền kề.  Sức mạnh của Xan-ti-a-gô không phải là sức mạnh của người sung sức mà là sức mạnh của tổng thể những gì đã suy thoái.  Thế mà lão vẫn chiến thắng con cá.  Đấy chính là giá trị tiềm tàng mà chỉ con người mới có được trên hành trình khẳng định sự sống.

Ông lão cho rằng con cá Kiếm là vận may của ta.

Trên đây chúng tôi đã đề cập đến việc con cá là giá trị vật chất và tinh thần của ông lão.  Bên cạnh đó, nó còn là vận may của Xan-ti-a-gô.  Điều này được chính ông lão thừa nhận.  Thì ra ngoài nỗ lực của bản thân, thành quả chiến thắng của ông lão còn nhờ vào sự rủi may của số mệnh.

Rất nhiều lần trong tác phẩm, ông lão xem việc không bắt được cá trong suốt 84 lần ra khơi là do vận rủi.  Không chấp nhận điều đó, lão vẫn nuôi hi vọng sẽ bắt được cá lớn.  Cuối cùng lão toại nguyện khi câu được con cá khổng lồ.  Nhưng con cá kéo lão ra khơi xa.  Lão trở thành “con mồi” của con cá.  Một sự hoán vị lạ lùng.

Ông lão lại trở nên bị động trước con cá.  Xem ra khát vọng càng lớn, con người càng bị nô lệ vào đó và rất dễ đánh mất đi sự tự do, tự chủ của chính bản thân mình.  Trong trường hợp này, vận may lại trở thành vận rủi.  Khi giết được con cá, vận may lại trở về với ông lão.  Chỉ có điều, chẳng bao lâu vận may ấy lại chuyển sang vận rủi.

Cơ sự cũng bắt đầu bằng một hành động trái khoáy.  Khi Xan-ti-a-gô đâm chết con cá, nghỉ ngơi lại sức và tự nhủ: “Bây giờ phải kéo nó vào, buộc chặt và tròng một chiếc thòng lọng vào giữa thân và một chiếc nữa vào đuôi để buộc nó vào thuyền”.  Rồi lão gọi: “Đến đây, cá.  Nhưng con cá không nhúc nhích.  Thay vào đó, lúc này nó nằm vươn mình trên biển và ông lão phải lôi con thuyền lại chỗ nó”.  Một lần nữa, ông lão lại mất thế chủ động trước con cá, ngay cả khi nó đã chết.  Điều này lại báo hiệu vận rủi và không lâu sau đàn cá mập đánh hơi được mùi máu cá đã xông tới tấn công.  Cuối cùng khi đưa được thuyền về bến, Xan-ti-a-gô chỉ còn lại bộ xương cá khổng lồ.

Có thể nói hành trình câu cá của ông lão là ẩn dụ cho hành trình rủi may của kiếp người.  Trong đời rủi may luôn cận kề, không dễ gì nắm bắt và có thể hiểu hết.  Hemingway khắc hoạ hình tượng nhân vật đầy ý chí, nghị lực, tài năng để vượt qua những rủi may ấy.  Hành trình sống của họ hết đi từ điều may rủi này sang điều may rủi khác.  Mọi phấn đấu của họ rốt cuộc sẽ cũng không thoát khỏi cái vòng rủi may kia.  Và cuối cùng là cái chết – hư vô.  Dẫu thế, nhân vật của Hemingway không bao giờ chịu khuất phục.  Họ sống để khẳng định một điều, ngay cả lúc tả tơi nhất của số phận, con người vẫn luôn biết ngẩng cao đầu, kiên trì chịu đựng (chịu đựng như một con người), biết chiến đấu để vượt qua.  Và đây là ý nghĩa sống tích cực nhất cho mọi lẽ sống: “con người có thể bị huỷ diệt chứ không chịu khuất phục” trước mọi thế lực bạo tàn.

Dấu ấn Thiên chúa giáo trong tác phẩm

Chúng ta đều nhận thấy sự sống bay nhảy của Ernest Hemingway, như không chịu dừng chân ở bất cứ đâu lâu, đã tự tạo cho mình một cuộc sống đa dạng ở khắp mọi ngã rẽ, vì thế những tác phẩm của Ernest Hemingway đã phong tỏa mọi mặt của đời người.

Khi chung sống với người vợ thứ hai Pauline Pfeiffer, Ernest Hemingway đã chuyển sang theo Thiên Chúa giáo và tôn giáo trở thành một vấn đề đối với Ernest Hemingway trong thời gian này, thậm chí Ernest Hemingway muốn rời bỏ Giáo Hội, tuy nhiên những người bạn của Ernest Hemingway nhận thấy Ernest Hemingway có những ràng buộc khá khôi hài (funny ties) với Thiên Chúa giáo trong nửa phần sau của cuộc đời.  Chính vì ảnh hưởng ảnh hưởng của thiên chúa, sự tin tưởng tuyệt đối về lời chúa dạy nên các tác phẩm sau này của ông ít nhiều đều mang đậm dấu ấn thiên chúa.  Truyện vừa Ông già và biển cả đã cho ta thấy được dấu ấn thiên chúa thể hiện như thế, kể về cuộc đấu tranh của con người với thiên nhiên như một tất yếu của sinh tồn, thông qua hình ảnh ông lão Xantiago quật cường và giàu ý chí, nghị lực trong cuộc chinh phục con cá Kiếm và bầy cá mập, tác phẩm nói lên cuộc hành trình đơn độc, nhọc nhằn của con người vì một khát vọng lớn lao đã thể hiện được lời dạy của Chúa không nản lòng trước khó khăn và thử thách của cuộc đời.  Từ đó nhà văn gửi gắm thông điệp: Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, “con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại”.

Nhân vật của Hemingway luôn có ý thức về sự hư vô mà họ phải đương đầu.  Họ biết rất rõ rằng mục tiêu tồn tại của họ là chiến đấu chống trả lại cái hư vô đó.  Nhưng họ không hề ảo tưởng con người đứng cao hơn số mệnh, cao hơn tự nhiên.  Họ biết một khi vượt qua được cái hư vô này họ lại phải đối diện với một cái hư vô khác.  Nhưng họ không bao giờ chịu buông xuôi.

Xantiago cầu Chúa giúp bằng cách hứa đọc kinh: “Chúa giúp ta chịu đựng.  Ta sẽ đọc một trăm lần kinh Lạy Cha và một trăm lần kinh mừng Đức Mẹ”.

Bên cạnh đó là những độc thoại liên tiếp, có lúc “lão nói”, có lúc “lão nghĩ” – với chính mình, với con cá, Để chinh phục con cá, đến khi gần như kiệt lực, tưởng bắt được rồi lại vùng ra, ông lão đã viện dẫn đến cả thế lực siêu nhiên, muốn đọc Kinh lạy cha, kinh mừng đức Mẹ… nhưng lại rất thản nhiên: coi như mình đã đọc.  Vì thời gian không thể dành cho việc đọc kinh mà phải bắt bằng được con cá đã sa vào lưới.  Cuối cùng, điều quyết định thắng lợi nằm trong bàn tay con người chứ chẳng phải nhờ vào một lực lượng thánh thần nào cả.  Con người ấy hiểu mục đích việc làm của mình, và tự hào, tự nhủ: hãy xứng đáng là một con người, hay ít nhất như một con cá! Suy nghĩ thật giản đơn, nhưng hàm chứa bao ý vị triết lý.

Xantiago cũng như các nhân vật thuộc “thế hệ mất mát” đều tin vào các giá trị xác thực, tin vào khả năng của chính bản thân mình.  Xantiago cầu Chúa giúp là chỉ giúp lão chịu đựng chứ không cầu giúp bắt con cá, có nghĩa lão ý thức được thành quả lao động là phải do chính tay con người làm ra chứ không thể có Chúa nào làm giúp cả.  Họ không tin vào những điều trừu tượng, hoa mĩ như những gì Kinh Thánh giảng dạy.  Do vậy, việc Xantiago hứa đọc kinh cầu Chúa giúp sức chỉ là một “phản xạ văn hoá” nhất thời (vì hằng bao thế kỉ, người phương Tây sống theo những quy chuẩn đạo đức Thiên Chúa giáo).  Bởi vì sau đó Xantiago không đọc mà lão thầm nhủ: xem như đã đọc rồi.  Sự bất tin ấy còn được đẩy đến mức bất kính.  Tập trung nhất là ở chi tiết sau khi giết chết con cá ông lão thấy “mắt nó trông dửng d­ưng như­ những tấm kính trong kính viễn vọng hay như­ một vị thánh trong đám rước”.

Không dựa vào Chúa, nhân vật của Hemingway dựa vào chính bản thân mình.  Đây là giá trị nhân văn vô cùng to lớn.  Xantiago đặt ra cho mình mục đích và cách sống.  Bây giờ lão đang đi gần đến cái đích; con cá sắp bị lão chinh phục.  Không có thế lực nào ngăn cản lão ngoại trừ chính bản thân lão.  Đến đây ta bắt gặp một ý tưởng độc đáo của nhà văn: con người trong cuộc khám phá, chinh phục chính bản thân mình.  Cuộc chinh phục của lão được tiến hành song song giữa hai đối tượng: đối tượng bên ngoài (con cá) và đối tượng bên trong (khả năng của thể trạng lão).

Hemingway không thật sự tập trung vào việc để nhân vật chinh phục thế giới bên ngoài.  Tiêu điểm của ông hướng cả vào việc khai thác thái độ của nhân vật trước hoàn cảnh đó.  Với Hemingway, việc đánh một con cá lớn thì ai đó cũng có thể thực hiện được, nhưng qua việc đánh cá đó để kiểm định khả năng tồn tại và ý nghĩa sống của con người, thì chỉ có Xantiago thực hiện được mà thôi. Từ quan niệm này, người đọc sẽ thấy Xan-ti-a-gô rất nhiều lần bộc lộ mình qua những đối thoại.  Trong cuộc chiến với con cá, ông lão liên tục đối thoại với bản thân với mục đích giữ cho đầu óc tỉnh táo, bàn tay khỏi bị chuột rút, cơ thể khỏi bị đổ sập xuống vì cuộc chiến không cân sức.  Khẩu hiệu chiến đấu của lão là tổng động viên mọi bộ phận trong cơ thể: “Kéo đi, tay ơi, lão thầm giục.  Hãy đứng vững, đôi chân kia.  Tỉnh táo vì tao, đầu à.  Hãy tỉnh táo vì tao.  Bọn mày ch­ưa bao giờ bại trận.  Lần này ta sẽ lật đ­ược nó”.  Kết quả, nhờ vào ý chí và sự điêu luyện tay nghề, ông lão đã giết được con cá Kiếm.  Nhưng tâm trạng của ông lão không hoàn toàn phấn khích trước thành quả đó. Như vậy có thể nói rằng không phải ngẫu nhiên mà Hemingway lại thổi hồn vào trong những tác phẩm của mình những dấu ấn của Thiên Chúa giáo, phải nói rằng chúng có vai trò và ý nghĩa không nhỏ trong việc khắc họa, truyền tải tư tưởng của nhà văn.

Hình ảnh đàn sư tử trong tác phẩm

Trong Ông già và biển cả, ngoài hình ảnh về biển cả và những đàn cá, ta còn bắt gặp hình ảnh của đàn sư tử trong những giấc mơ của lão già Xan-ti-a-gô.  Tại sao trong giấc mơ của Xan-ti-a-gô Hemingway không viết về những con vật khác như cá sấu hay cá mập (những hình ảnh này gần gũi với lão già vì ông thường thấy khi đi biển) mà tác giả lại viết về những con sư tử ? Phải chăng hình ảnh đàn sư tử mang một tầng ý nghĩa sâu sắc hơn ?

Hình ảnh đàn sư tử xuất hiện 3 lần trong tác phẩm Ông già và biển cả.  Lần thứ nhất là vào đêm ngủ ở nhà, trước lúc Xan-ti-a-gô ra khơi câu cá “Bây giờ lão chỉ mơ về các vùng đất, về những con sư tử trên bờ biển.  Chúng nô đùa như những chú mèo con trong hoàng hôn; lão yêu chúng như yêu thằng bé” [trang 24, 1].   Lúc này ông chưa hình dung được những vất vả mà mình sắp đối mặt trong chuyến ra khơi sắp tới nên giấc mơ về hình ảnh đàn sư tử gắn liền với quá khứ của Xan-ti-a-gô, mang ý nghĩa tượng trưng cho hạnh phúc của lão Xan-ti-a-gô về một vùng đất đầy tươi đẹp.  Đây chính là điều an ủi lớn nhất cho Xan-ti-a-gô mỗi khi lão gặp khó khăn trong cuộc sống, lão yêu chúng như yêu thằng bé bởi chúng đại diện cho hạnh phúc của lão trong quá khứ, một quá khứ hạnh phúc bên người vợ mà Xan-ti-a-gô vô cùng yêu thương.  Những con sư tử không xuất hiện ở nơi nào khác (thảo nguyên hay những vùng núi cao) mà xuất hiện trên bờ biển vì biển là nơi gắn liền với lão, gắn liền với cái nghề của lão, những tình yêu của lão với biển cả và những đàn cá ngoài khơi xa kia.

Lần thứ hai đàn sư tử xuất hiện là trong giấc mơ khi lão Xan-ti-a-gô ngủ trên thuyền sau một ngày mệt mỏi chiến đấu với con cá Kiếm “Mình mong nó ngủ và mình có thể ngủ và mình có thể mơ về những con sư tử, lão nghĩ.  Tại sao đàn sư tử lại là hình ảnh xuất hiện đậm nét nhất trong kí ức ? Đừng nghĩ nữa, lão già ạ, lão tự nhủ” [trang 51, 1].  Lần này, hình ảnh đàn sư tử xuất hiện trong giấc mơ khi lão Xan-ti-a-gô đang ở trong một tình huống vô cùng khó khăn, khiến lão mong con cá Kiếm ngủ để lão có thể ngủ, để lão có thể mơ về đàn sư tử.  Lúc này hình ảnh đàn sư tử mang ý nghĩa biểu tượng cho sức mạnh của tuổi trẻ, về thời trai trẻ đầy huy hoàng của Xan-ti-a-gô, một Xan-ti-a-gô mãnh liệt đầy sức sống.  Sư tử là một loài động vật ăn thịt mạnh mẽ, là thợ săn của rừng xanh, chúng luôn dùng hết sức mạnh cũng như năng lực của bản thân để chinh phục con mồi đến cùng dù cho con mồi có to lớn và mạnh mẽ hơn chúng bội phần.  Lão Xan-ti-a-gô cũng giống như vậy, bằng nhiệt huyết của tuổi trẻ huy hoàng trong quá khứ, lão dùng hết tất cả vốn liếng mà bản thân có, dồn hết vào trận chiến với con cá Kiếm với khát khao chinh phục được nó.  Đồng thời đàn sư tử xuất hiện trong giấc mơ cũng giống như niềm tin về những kết quả tốt đẹp, những cảm giác bình yên, ấm áp mà Xan-ti-a-gô đã có được trong quá khứ huy hoàng một thời.  Và lão tin rằng những cảm giác bình yên đó sẽ giúp lão chiến thắng trong cuộc chiến đầy khốc liệt với con cá Kiếm này.

Lần thứ ba đàn sư tử xuất hiện trong giấc mơ khi lão trở về nhà sau cuộc chiến đầy khốc liệt với đàn cá ngoài biển khơi “Phía trên đường, trong căn lều, ông lão lại ngủ.  Lão vẫn nằm úp mặt ngủ: thằng bé ngồi bên cạnh nhìn lão.  Ông lão đang mơ về những con sư tử” [trang 92, 1].  Sau khi trận chiến kết thúc, lão trở về nhà với hai bàn tay trắng trong tâm trạng chán nản và buồn rầu vì con cá Kiếm (biểu tượng cho vẻ đẹp, sức mạnh, ước mơ, khát vọng) đã không còn bởi sự giằng xé của đàn cá mập (đàn cá mập tượng trưng cho những khó khăn trong hành trình chinh phục ước mơ của cuộc sống).  Chính lúc này ông lại mơ về đàn sư tử như là niềm tự hào của lão Xan-ti-a-gô về quá khứ kiêu hùng, ông rất tự hào về những kĩ năng câu cá của mình, nhớ lại những con sư tử có nghĩa là Xan-ti-a-gô không buông bỏ quá khứ của mình bởi những kinh nghiệm trong quá khứ đã giúp ông chiến thắng trong cuộc chiến chinh phục được cái đẹp, ước mơ, khát vọng (được thể hiện thông qua hình ảnh con cá Kiếm).

Như vậy, liên kết những giấc mơ về các con sư tử, những con sư tử trở đi trở lại trong giấc mơ là biểu tượng của hạnh phúc, của niềm tự hào và sức mạnh của tuổi trẻ trong cuộc sống, là sự đan xen của quá khứ tốt đẹp với thực tại đầy khó khăn trong hành trình chinh phục thiên nhiên, chinh phục ước mơ khát vọng của lão già Xan-ti-a-gô.  Mỗi lần lão cảm thấy khó khăn nhất cũng chính là lúc lão có một nguồn sức mạnh, một niềm tin tiếp sức để lão tiếp tục mạnh mẽ bước qua khó khăn – đó chính là hình ảnh đàn sư tử xuất hiện trong giấc mơ của lão.

Nghệ thuật tác phẩm

1/ Xây dựng nhân vật

Một năm sau khi cuốn tiểu thuyết được xuất bản, Hemingway được trao tặng giải thưởng Nobel văn học không chỉ bởi một câu chuyện đánh động tâm hồn mà còn bởi nghệ thuật ông xây dựng nên một bức tranh lao động hoành tráng.  Nhân vật của ông không phải là một con người khổng lồ nhưng là một con người hết sức bình thường, nhỏ bé với một công việc lao động mang tính chất thực tế: đi đánh cá.

Xan-ti-a-gô – lão ngư phủ gắn bó đời mình với cái nghề đầy khó khăn, nguy hiểm, đặc biệt ở cái độ tuổi của lão.  Thế nhưng, Xan-ti-a-gô hiện lên không bởi những vẻ đẹp bên ngoài nhưng hơn hết lão hiện lên bởi những nét về mặt tâm lý.  Hemingway không xây dựng hình tượng lão đánh cá bằng số lượng ngôn từ của mình nhưng bằng các mảnh rời rạc của nhân vật, là những cuộc nói chuyện ngắn với chú bé Manolin, với con gái và nhất là cuộc hiến với chú cá kiến và đàn c ấ mập.  Chỉ một vài nét sơ sài, chủ yếu thông qua những hồi ức, những giấc mơ và chính yếu nhất là những lời độc thoại nội tâm, nhân vật tự nhiên xuất hiện với đầy đủ dáng vẻ, tính cách, cuộc đời và tài năng.  Xan-ti-a-gô hiện lên là một ông già với bàn tay nứt nẻ vì dây câu, chỉ có một người bạn duy nhất là chú bé Manolin hằng ngày thường nói chuyện với nhau bằng những câu nói vờ vĩnh; với những giấc mơ trong đó chỉ có những chiếc thuyền lớn, những chú sư tử trên bãi biển châu Phi; với một quyết tâm sắt đá giết cho bằng được con cá Kiếm và đàn cá mập;… Hemingway không cần lời lẽ để giới thiệu chi tiết, người đọc cũng thấy được cả một quãng đời và thừa hiểu đấy là một con người như thế nào.  Tuy có sự xuất hiện của chú bé Manolin và một vài người khác nhưng nhân vật duy nhất được nhà văn quan tâm là lão đánh cá Xan-ti-a-gô.  Một thiên truyện hơn một trăm trang chỉ để nói về một nhân vật hoạt động trong ba ngày đêm thì chỉ có Hemingway.  Tác giả đã vẽ nên hành động của ông già ở những nét đại lược nhất, giống như một sơ đồ về hành động của người ngư phủ nói chung.  Bởi thế, khi mô tả ngoại hình nhân vật, Hemingway không đẩy tới độ cá thể hóa nhân vật: rất khó giữ lại một gương mặt cụ thể, riêng biệt về “con người này” ở đây.  Ông tập trung đi sâu vào phân tích tâm lý nhân vật bằng cách xây dựng những màn độc thoại nội tâm độc đáo, ngắn gọn mà chứa đựng nhiều suy nghĩ, một thủ pháp nghệ thuật đặc sắc, đa dạng của Hemingway.  Dường như nhà văn không để cho nhân vật mình ngừng nói, ngừng suy nghĩ một giây phút nào.  Ngay cả những lúc ông tự nhủ là đừng suy nghĩ gì nữa thì ông lại nghĩ ngay đến điều khác.  Ông hỏi chim: “Mày bao nhiêu tuổi hở chim? Phải chăng đây là chuyến bay vượt biển đầu tiên của mày?”.  Lão nói với con cá: “Cá ơi, mày không biết mệt thì quả mày là tay khác thường đấy”, “Cá ơi đằng nào rồi mày cũng phải chết mà thôi.  Mày cũng muốn tao chết theo mày hả sao?”.  Lão nói với bàn tay trái đang tê bại của mình: “Nào tay ơi, bây giờ mày ra sao rồi.  Hay vẫn còn đang chưa hoàn hồn hả mày?”.  Có thể xem tất cả bề dày, chiều sâu của nhân vật đã được gợi lên qua hình thức độc thoại nội tâm.  Hemingway để cho nhân vật của mình tự bộc lộ tính cách, tư tưởng của bản thân.  Những cuộc đối thoại với chú bé Manolin đang ở xa, với trời mây, với biển cả, với cá nước, chim trời… thể hiện một tư tưởng của nhà văn: “Con người kết án phải chết và phải sống, nhưng họ có thể tìm thấy nguồn khây khỏa trong ý nghĩ mà Rôbớt Jordan đã linh cảm thấy và ông già đánh cá biết thể nghiệm đến cùng, khi hiểu được rằng không có một ai phải cô đơn ngoài biển khơi”.

2/ Ngôn từ tác phẩm

Điểm đặc biệt trong ngôn từ của Hemingway tưởng chừng như giản dị như một cuộc dạo chơi của những câu chữ nhưng khiến người đọc suy nghĩ rất nhiều, để rồi chìm đắm trong thế giới nội tâm của con người.  Khuất sâu dưới những trang viết, chúng ta bất chợt tìm thấy mình đâu đó trong những triết lý rất đỗi bình thường của cuộc sống.

Ông già và biển cả là bản anh hùng ca ca ngợi sức mạnh phi thường của con người trong cuộc chiến chống lại thiên nhiên khắc nghiệt để đạt đến ước vọng của mình.  Nhiều trang viết ẩn chứa một phong cách độc đáo, giàu triết lý và chất thơ, gợi cho người đọc những liên tưởng đến những vấn đề lớn tồn tại trong xã hội.  Điểm nổi bật là sự xuất hiện của một nhân vật chính duy nhất xuyên suốt toàn bộ tác phẩm.  Bản thân nó toát lên một phong cách cũng như giọng điệu linh hoạt và vững vàng kết hợp với nghệ thuật “tảng băng trôi” rất “Hemingway” tạo nên hấp lực và truyền cảm rất lớn.

Ông lão Xan-ti-a-gô, cô đơn giữa biển cả trong cuộc chiến chống lại con cá Kiếm khổng lồ, và sau đó là đàn cá mập, cuối cùng trở về với con cá Kiếm chỉ còn trơ bộ xương, mệt mỏi và đau xót…  Hình ảnh đó đã gây xúc động rất mạnh mẽ và là một minh chứng hùng hồn cho sức lao động và khát vọng cao đẹp của con người – khát vọng đó là sự khẳng định giá trị của bản thân, là những thành quả bắt nguồn từ trong những nghịch cảnh, là những điều tốt đẹp vẫn luôn được nhìn thấy đằng sau những đắng cay của cuộc sống.  Con cá Kiếm trở về là sự khẳng định một chiến thắng, một chiến thắng tinh thần đầy dũng cảm và mãi mãi hình tượng đó trở thành biểu tượng cho tình yêu cuộc sống ở mọi thời đại, bởi suy cho cùng, ở đâu trên trái đất này, con người vẫn luôn đấu tranh cho hạnh phúc, cho giá trị sống chân chính của mình.  Vẫn nhân hậu trên từng câu chữ, tác phẩm còn là tiếng nói ấm áp đầy yêu thương của tác giả đối với những con người nghèo khổ.

Với lối kể chuyện độc đáo, kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn kể và lời văn miêu tả nhân vật, miêu tả đối thoại, độc thoại nội tâm.  Khắc hoạ thành công chân dung nhân vật qua cảm giác, sử dụng ngôn ngữ kể và ngôn ngữ của nhân vật để khắc hoạ điều này.  Thêm vào đó là cách viết giản dị nhiểu chỗ tưởng như “lỏng” song kì thực lại rất chặt chẽ.  Viết theo nguyên lí tảng băng trôi

3/ Cốt truyện

Ông già và biển cả là một cuốn truyện độc đáo mà trước hết là ở tính chất gần như không có cốt truyện của nó.  Nếu quan niệm cốt truyện như sự phát triển của những sự kiện biến cố gắn bó với nhân vật trong sự vận động của thời gian (thậm chí có lúc nó đã được định hình trong một kết cấu có tên gọi là kết cấu đramatic gồm năm thành phần như trong một vở kịch truyền thống, rất tiêu biểu ở tiểu thuyết thế kỉ XIX trở về trước) thì quả thật Ông già và biển cả đã thể hiện quá trình hủy diệt cốt truyện ở thế kỉ XX một cách rõ rệt.  Cả cuốn truyện dày hơn trăm trang chỉ là câu chuyện dài ba ngày đêm của ông lão đánh cá Xan-ti-a-gô.  Điểm nhìn của tác phẩm được di động vào bên trong, bởi lẽ hành động bên ngoài rất đơn giản, dường như toàn bộ hành động diễn ra ở bên trong nhân vật; mà khi điểm nhìn đã di động v ào bên trong thì cốt truyện – theo quan niệm truyền thống, dựa trên sự phát triển của tình tiết – rõ ràng là bị giảm nhẹ.

4.  Bàn về nguyên lí “Tảng băng trôi” trong tác phẩm

Ngay từ những năm sáu mươi, khi Giã từ vũ khí và Chuông nguyện hồn ai ra đời ở Việt Nam, tên tuổi Hemingwayđã trở nên rất gần gũi với nhiều lứa tuổi. Giống bao nghệ sĩ thiên tài khác, ông cũng phát biểu quan niệm nghệ thuật và cách thức sáng tạo của mình. Cách thức đó được gói trọn trong hình tượng Tảng băng trôi mà về sau các nhà nghiên cứu nâng lên thành nguyên lý và được sử dụng rộng rãi trong các công trình nghiên cứu không chỉ riêng đối với các sáng tác của Hemingway. Sở dĩ hậu thế làm điều ấy bởi lẽ quan niệm Tảng băng trôi có nét tương đồng giữa đông tây kim cổ, là quy luật chung cho bất kỳ kiệt tác nào [1, 100]

Hemingwaynhiều lần nhắc đến hình tượng Tảng băng trôi. Phần trích dịch sau, chúng tôi rút từ công trình Phỏng vấn Hemingway: “Tôi luôn cố gắng viết theo nguyên tắc Tảng băng trôi. Cứ bảy phần tám của nó chìm cho một phần nổi. Bất cứ điều gì bạn biết mà bạn có thể loại bỏ thì nó chỉ làm tăng thêm sức mạnh cho Tảng băng của bạn. Đó là những phần không được viết. Nhưng nếu nhà văn bỏ qua điều gì đó bởi vì anh ta không biết, vậy thì sẽ có một lỗ hổng trong truyện”. [1, 101]

Để hiểu rõ ý kiến trên, chúng ta cùng trở lại với bài phỏng vấn. Ngay từ đầu, Hemingway phát biểu: “Tôi có những cơn ác mộng và biết những cơn ác mộng mà người khác có. Nhưng bạn không phải viết lại tất cả. Bất kì vấn đề nào bạn có thể bỏ mà bạn biết rõ về nó thì nó vẫn hiện diện trong tác phẩm với hết thảy những phẩm chất, đặc điểm. Khi nhà văn bỏ qua những gì anh ta không biết. Điều ấy sẽ phô ra những lổ hổng trong truyện”. [1, 102]

Như thế, điều kiện đầu tiên để tạo ra nghệ thuật Tảng băng trôi trong tác phẩm: (a) nhà văn phải nắm rõ những gì liên quan đến việc viết và nội dung của điều cần biết, (b) có thể bỏ được chừng nào thì bỏ, càng nhiều càng tốt. Mục đích của thao tác này là nhằm phát huy khả năng đồng sáng tạo từ phía bạn đọc. [1, 101]

Hemingway nhấn mạnh đến việc loại bỏ tư liệu thu thập được. Như thế những chi tiết hình tượng được đưa lên trang giấy đã qua bộ lọc của ông. Nó ngấm vào máu thịt của ông mà phôi thai thành. Ông không muốn và không bao giờ đưa chất liệu sống lên trang giấy. Vậy nên ta có thể nói, nguồn gốc Tảng băng trôi được kết hợp theo công thức: Chất liệu+Loại bỏ+Hư cấu. [1, 101]

Hemingway đã sử dụng một hình ảnh nổi tiếng để nói về phương pháp viết của ông: đó là phương pháp “tảng băng trôi”, bảy phần tám chìm dưới nước, chỉ có một phần nổi lên trên cho mọi người nhìn thấy.  Hình ảnh ấy chẳng những đã minh họa cho phong cách Hê- minh-uê, mà nó đã tóm tắt yêu cầu đối với một áng văn chương thực sự có giá trị, đặc biệt đối với độc giả thế kỷ XX.  Mỗi người đọc theo những cấp độ khác nhau, sẽ phát hiện những tầng ngầm của “tảng băng trôi” – tác phẩm văn chương.  Hình ảnh này của Hemingwaythật ra đã được một thuật ngữ lí luận gợi lên: đó là “mạch ngầm văn bản”. [2, 722].  Dưới vẻ trần trụi, thô sơ, rõ ràng bên ngoài, tác phẩm của ông ẩn dấu những phần sâu kín, đa nghĩa và đầy chất thơ.  Thoạt nhìn, ngôn từ ở đây thường rất ngắn gọn và đơn giản, điều này đặc biệt thể hiện qua một loại ngôn từ mà người ta coi là sở trường của ông, ngôn ngữ đối thoại.  Người ta ví lối văn chương đối thoại của Hemingwayvới những băng ghi âm hoặc nói đến loossi văn điện tín.  Đối thoại rời rạc, khó hiểu ấy không đơn giản chỉ hứng thú của nhà văn, mà thường gắn bó với kiểu nhân vật Hê-minh-u: họ không trần tình, bộc lộ tâm tư mà thường khi lại giấu kín nó.  Muốn hiểu hết đối thoại của nhân vật Hemingway, nhiều khi phải đọc cả những im lặng và nhập hẳn vào văn cảnh của họ nữa.  Huống chi nhà văn thường ẩn mình, không giải thích, bình luận nhiều về nhân vật, nên có những câu đối thoại gần như hoàn toàn thuộc về phần chìm của “ tảng băng trôi”. [2, 273]

Nhà văn Hemingway quan niệm tác phẩm nghệ thuật như một “tảng băng trôi” có bảy phần chìm, chỉ một phần nổi.  Hemingway lấy hình ảnh tảng băng trôi phần nổi ít, phần chìm nhiều đặt ra yêu cầu đối với tác phẩm văn chương phải tạo ra “ý toại ngôn ngoại”.  Nhà văn không trực tiếp công khai phát ngôn cho ý tưởng của mình mà xây dựng hình tượng có nhiều sức gợi để người đọc tự rút ra phần ẩn ý.

Phần nổi:  đầu tiên, “ông già và biển cả” là một tiêu đề mang nhiều tầng nghĩa.  Ở phần nổi, đó chỉ đơn thuần là liệt kê hai yếu tố chính yếu của tác phẩm là ông già Xan-ti-a-gô là nhân vật chính và biển cả không gian chính. Phần nổi là nghĩa tường minh, là nội dung tác phẩm được thể hiện qua câu chữ qua nội dung của toàn bộ tác phẩm. Đó là những gì nhìn thấy được văn bản ngắn gọn, đơn giản.  Qua lượng ngôn từ hạn hẹp chuyển tả những lớp nghĩa hết sức sâu xa.  Nhân vật số lượng cũng không nhiều, cũng là tác phẩm đơn giản về hoạt động câu cá cũng là sự giản lược về cốt truyện.  Tác giả đã miêu tả cuộc đấu giữa ông lão đánh cá và con cá kiếm. Đề cao sức mạnh của con người, thể hiện niềm tin vào nghị lực của con người và niềm tự hào về con người.

Lão Xan-ti-a-gô câu được con cá Kiếm.  Con cá lượn những “vòng tròn rất lớn”. Ông lão “nhẹ nhàng” kéo con cá vào.  Lão “dùng cả hai tay, lắc người, dốc hết lực của cả cơ thể của chân trụ ra mà kéo”.  Con cá vẫn chậm rãi lượn vòng.  Hai giờ sau, ông lão “mệt thấu xương”, các vòng tròn đã hẹp hơn nhiều.  Con cá vẫn tiếp tục lượn vòng.  Ông lão đã kiệt sức, thấy “hoa cả mắt”, cảm thấy “chóng mặt và choáng váng”.  Lão tự động viên mình: “ta không thể tự chơi xỏ mình và chết trước một con cá như thế này”.  Đến vòng thứ ba, lão đã nhìn thấy con cá, lão “không thể tin nổi độ dài của nó”.  Một con cá kiếm khổng lồ, cái đuôi “lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn…  thân hình đồ sộ… Cánh vi trên lưng xếp lại, còn bộ vây to sụ bên sườn xòe rộng”.  Con cá tiếp tục lượn thêm nhiều vòng.  Lão càng kiệt sức, lão tự gọi mình: “Đầu ơi, hãy tỉnh táo”.  Lão cảm thấy “mình sắp ngất đi”, hai tay lão “đã rã rời và mắt lão chỉ có thể nhìn rõ được từng lúc mà thôi”, lão cảm thấy “xây xẩm cả mặt mày”. Lão đã kéo được con cá lại gần thuyền.  Dồn hết mọi đau đớn và sức lực còn lại, “vận hết sức bình sinh”, lão phóng ngọn lao vào trúng tim con cá.  Con cá đã chết, máu từ tim nó loang ra, “làm máu đen sẫm trông như bãi cát ngầm trong làn nước biếc sâu hơn ngàn thước.  Rồi nó lan rộng tựa đám mây”.  Trong cuộc đấu với con cá Kiếm, lão Xan-ti-a-gô là người chiến thắng.  Lão đã chiến thắng con cá bằng chính sức mạnh của mình.  Qua cuộc đấu, tác giả đề cao sức mạnh của con người.

Phần chìm là ý nghĩa của đoạn trích được suy ra từ các hình tượng.

Ông già, tượng trưng cho con người.  Còn biển cả là biểu tượng của tự nhiên.  Ông già và Biển cả được viết hoa không chỉ thể hiện sự trân trọng của tác giả dành cho con người và tự nhiên, mà còn bộc lộ sức mạnh to lớn ẩn chứa bên trong hai đối tượng này. Đồng thời việc sử dụng từ “ và” chỉ quan hệ đẳng lập, đã bộc lộ quan điểm của tác giả, con người có sức mạnh ngang với tự nhiên, thậm chí còn hơn cả tự nhiên.  Con người hoàn toàn có thể chinh phục được tự nhiên, thậm chí đó là một lão giã đã gần đất xa trời.  Hình tượng con cá kiếm là ước mơ của người lao động, cũng là biểu tượng về vẻ đẹp của tự nhiên.  Ông lão đánh cá là biểu tượng về người lao động có ý chí và nghị lực phi thường.  Cuộc đấu giữa ông lão và con cá kiếm thể hiện hành trình gian khổ của con người để biến ước mơ thành hiện thực.  Qua phần nổi, tác giả còn đề cao con người, thể hiện niềm tin vào nghị lực của con người, tự hào về con người.  Trong cuộc đấu với con cá kiếm, cả hai đều dũng cảm, mưu trí, cao thượng, nhưng chiến thắng cuối cùng thuộc về con người.  Ông lão chiến thắng con cá không chỉ bằng sức mạnh mà bằng các ý chí, nghị lực phi thường.

Việc sắp đặt cặp nhân vật ông già Xan-ti-a-gô và thằng bé Manolin xuất hiện ở đầu và cuối tác phẩm cũng mang ý nghĩa biểu tượng.   Manlolin luôn giúp đỡ ông lão, lo lắng cho ông lão, động viên ông lão, chúc ông lão những lời may mắn, tốt đẹp, hiểu và cảm phục “ thành quả” ông lão đạt được.   Có thể nói cặp nhân vật này thể hiện quy luật tiếp nối không ngừng của nhân loại, ông lão là kẻ đi trước, còn thằng bé là người tiếp nối và kế thừa con đường và ý chí quật cường của ông lão.  Cặp nhân vật này mang tính xã hội tiêu biểu, giống như Hemingway từng tâm niệm “một thế hệ qua đi, một thế hệ tiếp đến, và trái đất mãi mãi vững bền”.  Thế nhưng Xan-ti-a-gô và Manolin còn là một cặp tri kỉ và thể hiện phần nào khát vọng luôn thôi thúc bên trong Hemingway, chính là tìm được một tri kỉ có thể hiểu và trân trọng những gì ông viết ra.  Điềunày thể hiện rõ ở việc ông lão 3 ngày lênh đênh trên biển, thường lặp đi lặp lại một ước vọng giá mà Manollin ở đây.  Ước vọng ấy đã trở thành một nốt nhấn trong tác phẩm.

Trong hệ thống biểu tượng ta không thể bỏ qua mảnh ghép trọng yếu nhất, chính là “bộ xương cá kiếm khổng lồ”, kết quả cuối cùng trong chuyến ra khơi của ông lão.

Với những người ngư dân, xét trên phương diện mưu sinh, bộ xương cá chỉ là một thứ bỏ đi, một sự thất bại ê chề.  Song họ vẫn là người trong nghề, dù vẫn chưa hiểu được toàn bộ sự gian truân của lão, nhưng một phần nào đó, họ đã thực sự cảm động khi nhìn thấy bộ xương cá vĩ đại.  Tuy nhiên, các du khách đi biển khi nhìn thấy bộ xương cá lại thốt lên rằng: “không ngờ cá mập lại đẹp như thế, dáng đuôi thật duyên dáng”.   Lời khen đó chỉ là bộc phát, lời khen của họ sớm muộn cũng bị sóng biển cuốn trôi, chắc chắn sau này họ chẳng còn nhớ gì về nó nữa.  Những du khách, họ chẳng thể nào hiểu được bộ xương cá mập kia chính là bộ xương cá kiếm, và để có được bộ xương cá đó, người đánh cá đã phải trải qua cuộc chiến khắc nghiệt.  Chính ông lão Xan-ti-a-gô cũng là một ngư dân, xét trên phương diện mưu sinh, bộ xương cá là một sự thất bại, ngay cả chính ông lão cũng phải thừa nhận và thốt lên điều đó.  Nhưng thực chất, bộ xương cá không phải là một sự thất bại.  Đó chính là thành quả lao động của ông, là dấu ấn cho sự gian khổ của ông.  Thật không ngẫu nhiên mà tác giả lại chọn bộ xương cá làm chi tiết chủ đạo cho tác phẩm.  Bộ xương chính là biểu tượng cho sự thành công, sự bền vững không thể xóa mòn theo năm tháng.  Một bộ xương cá đơn thuần, nhưng theo góc nhìn của nhiều người lại chứa đựng nhiều triết lí nhân sinh.  Trong cuộc sống, thành quả mà ta đạt được chỉ có người tri kỉ mới hiểu được trọn vẹn mà thôi, kẻ trong nghề dù có thể hiểu nhưng không thể hiểu hết được toàn bộ, còn với kẻ ngoài cuộc chỉ là vô nghĩa.  Không chỉ vậy dù thành quả ấy có không được trọn vẹn hay là một thứ đồ phế phẩm đi chăng nữa, ta cũng không được nản lòng bỏ cuôc.  Vì cuộc đời còn nhiều gian nan, thành quả đạt được không dễ dàng.

Ông già và Biển cả là một tiểu thuyết rất ngắn, số lượng nhân vật trong tác phẩm cực ít. Ông già và biển cả có tám nhân vật (bao gồm cả cá Kiếm và cá Mập) song hiện diện trên hầu hết các trang sách chỉ mỗi một Xan-ti-a-gô. Nếu hiểu theo truyền thống thì tác phẩm gần như không có cốt truyện. Bởi lẽ những chi tiết hiếm hoi để tạo nên cốt truyện có thể kể là: Sau tám mươi tư ngày đi biển không đánh được cá. Xan-ti-a-gô lại ra khơi. Lần này ông lão câu được con cá Kiếm khổng lồ và bị nó kéo đi rất xa. Sau, ông cũng chinh phục được và đưa nó vào bờ nhưng chỉ còn bộ xương bởi dọc đường lão đã bị bầy cá Mập tấn công. [1, 103]

Ba ngày đêm của cuộc đời Xan-ti-a-gô được tái hiện trong tác phẩm quá ngắn ngủi. Hơn nữa, khi được đặt trong không gian mênh mông về bản chất nhưng hạn hẹp bởi thị lực của con người: mặt biển, thì câu truyện dường như diễn ra trong khoảnh khắc. Để ở đó, ông lão vừa chiến đấu, vừa ăn, nghỉ, ngủ, vừa hồi tưởng, tự hào, âu lo…Tất cả dồn nén nên sự hiện diện của thời gian vật lý dường như không quan trọng. Trong khi đó, không gian ngày càng bị thu hẹp bởi thị lực của lão yếu dần theo thể trạng. Như vậy, không-thời gian chỉ còn dồn vào một điểm: con cá mắc câu và ông lão giữ nó nên độ dàn trải của ngôn từ hầu hết được “cấy” trên dòng thời gian hồi tưởng của Xan-ti-a-gô. [1, 103]. Nó tạo nên kiểu ngôn từ tâm trạng: độc thoại nội tâm.  Thế nhưng độc thoại nội tâm tuy nhiều về số lần song ngắn về lượt. Nó không chiếm cả chương và không đủ dài để trở thành dòng ý thức. Thêm nữa, ông lão thường nói lớn, đối thoại với chính bản thân mình, nên dòng độc thoại nội tâm ấy mang vóc dáng của những đối thoại.  Ấy mà đối thoại ở tác phẩm này bị “cô” đến tận cùng có thể. Nó không chỉ ngắn về nội dung mà còn bị lược bỏ lời thuyết minh của thoại. Về chủ thể :lão nói, thằng bé đáp…Về các yếu tố ngôn từ biểu lộ sắc thái tìn cảm, chẳng hạn như khi miêu tả lời nói của ông lão “Ông nhớ cháu”, những nhà văn khác thường thêm “Lão nói âu yếm”… thì đây, với Hemingwaychỉ còn độc mỗi “Ông nhớ cháu”. [1, 104]

So với người kể chuyện cũng như những nhân vật khác, Xan-ti-a-gô nói nhiều. Suốt cả tác phẩm trừ khoảng vài ba trang đầu và cuối có lời dẫn chuyện, miêu tả của người kể chuyện: các trang còn lại, tuyệt đại đa số là lời ông lão. Điều này chứng tỏ tác phẩm có rất ít nhân vật, và người kể chuyện ý thức nhường lời cho nhân vật để hòng đạt hiệu quả khách quan tối ưu trong giao tiếp.

Do vậy, hiện diện trước độc giả, tác phẩm chỉ có một Xan-ti-a-go qua khả năng tiết kiệm cả ngôn từ đến cái nhìn ngoại cảnh. Thế mà ta có thể khai thác hình tượng nhân vật này dưới nhiều cấp độ, thậm chí là trái ngược nhau.

Trong sáng tác nghệ thuật, tính đa chiều kích là nguyên tác mà bất kì nghệ sĩ nào cũng cần hướng tới. Nhà văn sẽ chẳng nói được gì khi ngôn từ nghệ thuật của anh ta câm lặng, dẫu cho ngoài đời anh ta rất có tài diễn thuyết, hùng biện. Loại bỏ, hư cấu, xây dựng quan hệ, biểu tượng, huyền thoại và khai thác tính nước đôi… là cách chắp lời cho ngôn từ, là phương pháp sáng tạo độc đáo của Hemingway. Có hồi ông ví cái phần nổi núi băng của mình như một ngọn lửa, ngọn lửa nhỏ và ông lại “nén nhỏ nó xuống, xuống thấp cho đến lúc bất thình lình một tiếng nổ vang lên. Nếu không có gì khác ngoài tiếng nổ ấy, thì tác phẩm của tôi sẽ hấp dẫn đến mức không một ai lại thích nó”.Hemingway đã thực hiện được điều này trong tác phẩm. Nhưng có lẽ thành công nhất vẫn là Ông già và Biển cả, nơi tập trung mạnh nhất nguyên lý Ngọn lửa nén hay quen thuộc hơn là Tảng băng trôi. [1, 120]

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tủ sách tác phẩm văn học giảng bình, Ernest Hemingway “Ông già và biển cả”, Lê Huy Bắc dịch và giới thiệu với sự cộng tác của Đặng Anh Đào, Lê Nguyên Cẩn, Lê Đình Cúc, Bùi Thị Kim Hạnh, Phong Lê, Huy Liên, Huy Phương, Phùng Văn Tửu, Nxb Đại học Quốc gia, năm 2001.

Giáo trình văn học phương tây, Nxb Giáo dục.

Nguyên lý “Tảng băng trôi” và cách khai thác trong “Ông già và Biển cả”, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, H, 1996.

Hemingway (1986), Ông già và biển cả, NXB Văn Học.

http://vi. wikipedia. org/wiki/Ernest_Hemingway#Gia_. C4. 91. C3. ACnh

http://www. vanhoanghean. com. vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhin-ra-the-gioi/ehemingway-nhung-dau-an-cuoc-doi-va-van-chuong

http://vietsciences. free. fr/biographie/artists/writers/hemingway. htm

Hemingway (1986), Ông già và biển cả, NXB Văn Học.

http://hopluu. net/a1712/van-hao-ernest-hemingway

Hemingway (1986), Ông già và biển cả, NXB Văn Học.

Đặng Anh Đào, Hoàng Nhân, Văn học Phương Tây, NXB Giáo Dục Việt Nam, 2010