Tâm Hồn Thi Nhân

Nhà văn Anatole France đã từng nói:”Đọc một câu thơ nghĩa là ta gặp gỡ tâm hồn tâm hồn một con người”. Những áng văn, vần thơ không chỉ là những tác phẩm có giá trị về mặt nội dung và nghệ thuật mà nó còn là chiếc cầu nối những tâm hồn đồng điệu lại với nhau, đưa chúng ta đến gần hơn với tâm hồn của những thi sĩ những bậc danh nhân. Mỗi bài thơ cho chúng ta biết được ý nghĩa và nội dung, từng vần thơ lại mở ra chúng ta tâm hồn của người viết, từng câu văn từ ngữ mà tác giả đặt vào bài thơ đều chính là những tâm tư tình cảm, những mong muốn sâu thẳm mà tác giả muốn gửi gắm để nói lên nỗi lòng của mình. Như Tố Hữu cũng đã từng khẳng định: “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn”. Thơ không chỉ thể hiện những cung bậc cảm xúc vui buồn, những trăn trở khó khăn mà nó còn cho thấy những nét tính cách, những góc khuất sâu thẳm trong tâm hồn người nghệ sĩ, khi những từ ngữ không thể nói thành tiếng thì đều có thể bộc bạch qua những trang thơ.

Nguyễn Du là minh chứng rất rõ cho ta thấy điều đó, ông là một đại thi hào dân tộc với trái tim nhân đạo rất lớn. Nhắc đến Nguyễn Du ta không thể không nhớ đến những vần thơ của ông là tiếng khóc lớn dành cho những con người tài hoa bạc mệnh, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội xưa. Đó là tấm lòng ca ngợi ngưỡng mộ không chỉ về vẻ đẹp hình thức mà còn là về phẩm chất tài năng của người phụ nữ trong chế độ phong kiến. Từ ngưỡng mộ Nguyễn Du xót thương cho số phận của những người phụ nữ như nàng Kiều, Tiểu Thành, họ luôn bị vùi dập vì quy luật “Tài mệnh tương đố” “tài hoa bạc phận”.  Từ đó nói lên những khát vọng được tự do được hạnh phúc của những người phụ nữ cũng chính là nỗi lòng của Nguyễn Du đồng thời lên án chế độ bất công của xã hội phong kiến, các thế lực đã chà đạp người phụ nữ.

                                          Thương thay thân phận đàn bà

                                          Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

Sinh ra là một người phụ nữ vốn đã là một thiệt thòi rất lớn, theo luật lệ phong kiến ngày xưa, phụ nữ phải “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Họ luôn phải nhường nhịn, hi sinh cho gia đình, bị những hủ tục lạc hậu của phong kiến vùi dập cả về thể xác lẫn tinh thần nhưng lại không có một sự đồng cảm thấu hiểu. Qua những câu văn của Nguyễn Du ta thấy được tâm hồn và hình ảnh của ông cũng là một người tài hoa bạc phận, cùng một kiếp gian truân nên có thể đồng cảm với giai nhân cũng là lẽ thường tình. Từng đường nét câu chữ tinh tế của Nguyễn Du xuất phát từ chính tâm hồn của ông, từ nỗi lòng sâu thẳm khi trải qua một cuộc đời tài hoa bạc mệnh. Mộng liên đường chủ nhân từng viết :

“Lời văn tả ra hình như có máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy khiến ai đọc đến cũng thấm thía ngậm ngùi,  đau đớn đứt ruột… Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết. Nếu không phải có con mắt trong thấu sáu cõi tấm lòng nghĩ suốt cả nhìn đời thì bài nào có được cái bút lực ấy”.

Sống trong thời đại loạn lạc với nhiều biến cố từ gia đình và cuộc sống phong trần đã đem đến cho Nguyễn Du nhiều kinh nghiệm, vốn sống thực tế phong phú, thôi thúc ông suy ngẫm về xã hội, về con người, cái vô hạn của cuộc đời tuần hoàn biến chuyển, trước cái lạnh lẽ của lòng người vô thủy vô chung. Chính thời đại ấy đã hình thành nên ở ông một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm cùng một trái tim nhân đạo lớn dành cho con người, hay có thể nói :khóc thương cho người cũng chính là khóc thương cho chính mình.

Nếu như Nguyễn Du là một người khác giới lên tiếng thương cảm cho những “phận đàn bà” thì Hồ Xuân Hương – nữ sĩ của chúng ta đã thay măt cho phái nữ cất lên tiếng nói đồng cảm, niềm phẫn uất, lời oán ghét với sự bất công của xã hội đương thời đồng thời cũng là lời khẳng định giá trị tâm hồn của họ.

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son

Mượn hình tượng bánh trôi nước bình thường dân dã để khắc họa vẻ đẹp hình thể lẫn tâm hồn của những người con gái thân phận nhỏ bé, chìm nổi, bị chà đạp mà vẫn gìn giữ trọn vẹn phẩm giá của mình đã thể hiện được ý thơ sâu sắc, thâm thuý, chua cay, đả kích xã hội đương thời của nhà thơ. Lẽ ra với vẻ đẹp lẫn tâm hồn trong trắng hiền hậu như thế, nàng “bánh trôi nước” phải có được cuộc sống sung sướng hạnh phúc. Nhưng không, dưới sự đày đọa của những thế lực đen tối cùng với hủ tục lạc hậu của xã hội phong kiến, cuộc đời nàng phải long đong, lận đận, vất vả, phiêu dạt, chìm nổi không chỉ một lần mà nó như một vòng tuần hoàn lặp đi lặp lại giữa dòng đời rộng lớn. Chỉ với bốn câu thơ đơn giản nhưng đã chứa đựng một luồng ánh sáng ý thức về xã hội bất công vùi dập người phụ nữ và ý thức về giá trị, phẩm giá của người phụ nữ chân chính, của con người luôn giữ tấm lòng son dù ở bất cứ hoàn cảnh nào. Ở nữ sĩ, chúng ta còn thấy được cái tôi trữ tình, cá tính, yêu đời và mộc mạc, đó mới là ý thức chủ đạo làm nên cái sinh khí, cái rạo rực, cái ý vị đậm đà của thơ Hồ Xuân Hương.

                                Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây đá ấy hòn.

Mượn thiên nhiên để bộc bạch tâm trạng, từng sinh vật cây cối như được nhân hóa trở nên có hồn và sức sống mãnh liệt. Hai câu thơ đã phá vỡ nghi thức hàn lâm, đạo mạo trong văn chương lúc bấy giờ. Nét vẽ táo bạo, dữ dội, khác thường của nữ sĩ tạo nên những thứ sự vật vô tri nay lại quẫy cạp, bức phá, tràn trề sự sống. Qua đó ta thấy được một tâm hồn yêu cuộc sống mãnh liệt, một cá tính táo bạo mạnh mẽ, một ý thức phản kháng để bám chặt lấy cuộc sống, để thách thức xã hội và để khẳng định giá trị của mình.

Trưởng thành trong giai đoạn lịch sử chiến tranh, ảnh hưởng nặng nề tục lệ phong kiến “nhất nam viết tử thập nữ viết vô”, Hồ Xuân Hương thông minh, có tài là thế nhưng tiếc thay sinh ra là phận gái nên cái lỗi lạc, lãng mạn của bà thành ra bị lắm người cho là “lẳng lơ”. Dù vậy, bà chúa thơ Nôm vẫn thể hiện được cái cá tính ngang tang, táo bạo của mình, một sức sống mạnh mẽ, một tâm hồn phản kháng thách thức những hủ tục lạc hậu của chế độ phong kiến. Hồ Xuân Hương lấy thơ để riễu đời, để miệt thị những kẻ lộng quyền, nói lên những thói hư tật xấu mà xã hội phong kiến đã dung tục đã bao che để đày đọa và hành hạ những người phụ nữ trong xã hội xưa.

Thơ là cuộc đời cũng là trái tim. Tình cảm trong thơ là một trong những yếu tố quan trọng đem đến sức rung động của thi ca. Thơ muốn làm cho người ta khóc trước hết mình phải khóc. Thơ muốn làm cho người ta cười trước hết mình phải cười. Một nghệ sĩ cho dù có tài hoa đến bao nhiêu, có được những từ ngữ sắc sảo hay kĩ thuật viết điêu luyện đến mấy mà không có một cảm xúc chân thật thì những con chữ đó cũng chỉ có xác mà không có hồn, không có được giá trị thực sự.

                                Tác giả: Nguyễn Phạm Thanh Hương – Nguồn: Văn học 365 

(*) Bản quyền bài viết thuộc về VH365. Khi chia sẻ, cần phải trích dẫn nguồn đầy đủ tên tác giả và nguồn 

Đam mê Văn Học – Gửi bài viết TẠI ĐÂY