Ý Nghĩa Của Huyền Thoại “Mộc Thạch Tiền Minh” Trong Tác Phẩm Hồng Lâu Mộng

  1. KHÁI QUÁT CHUNG.
  2. Tác giả Tào Tuyết Cần.

Tào Tuyết Cần (chữ Hán: 曹雪芹; bính âm: Cáo Xuěqín) (1724? – 1763?), tên thật là Tào Triêm (曹霑), tự là Mộng Nguyễn (梦阮), hiệu là Tuyết Cần, Cần Phố, Cần Khê là một tiểu thuyết gia vĩ đại người Trung Quốc, tác giả của cuốn tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng, một trong tứ đại kỳ thư của văn học cổ điển Trung Quốc. Tổ tiên ông vốn là người Hán ở Liêu Dương, sau đó tổ xa của ông là Tào Tuấn quy hàng Mãn Châu, nhập tịch Mãn tộc.

  1. Tác phẩm Hồng Lâu Mộng.

2.1 Nhan đề của tác phẩm

Hồng lâu mộng Trung văn giản thể: 红楼梦; phồn thể: 紅樓夢; bính âm: Hónglóu mèng hay tên gốc Thạch đầu kí Trung văn giản thể: 石头记; phồn thể: 石頭記; bính âm: Shítóu jì là một trong bốn kiệt tác (tứ đại kì thư) của văn học cổ điển Trung Quốc (3 kiệt tác kia là Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung, Tây du kí của Ngô Thừa Ân và Thủy Hử của Thi Nại Am). Tác phẩm được Tào Tuyết Cần sáng tác trong khoảng thời gian giữa thế kỉ 18 triều đại nhà Thanh của Trung Quốc. Với hơn 100 triệu bản được xuất bản, tiểu thuyết này trở thành một trong những sách bán chạy nhất của mọi thời đại.

Tác phẩm ra đời vào khoảng giữa thế kỉ XVIII, đời nhà Thanh, 80 hồi đầu do Tào Tuyết Cần (曹雪芹) viết, 40 hồi sau do Cao Ngạc viết thêm và soạn thành sách. Ngoài ra Hồng lâu mộng còn có một số tên khác như:

Thạch Đầu Kí tức là chuyện Thần Anh đầu thai xuống hạ giới trả nợ tình duyên rồi lại trở về kiếp đá.

Tình Tăng lục hay Phong Nguyệt bảo giám

Thập nhị kim thoa lấy chuyện mười hai cô gái đẹp trong truyện để đặt tên.

Kim Ngọc kì duyên: Bảo Thoa có vàng, Bảo Ngọc có ngọc nên Bảo Ngọc lấy Bảo Thoa là Kim Ngọc kì duyên.

Nhan đề:  “Thạch Đầu ký”.

Ban đầu, Hồng Lâu mộng có tên là Thạch đầu ký. Thạch Đầu Ký thuộc loại tác phẩm chương hồi, là một bộ trường thiên tiểu thuyết. Tào Tuyết Cần viết được 80 chương, theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, “chữ chữ đều toàn bằng máu và nước mắt”. Tác phẩm ấy có thể được xem là toàn bộ những hồi ức đau thương của công tử Tào Tuyết Cần về những ngày vẻ vang và những ngày suy tàn của gia đình mình, của giai cấp mình. Tuy nhiên, vượt lên khỏi những hồi ức đó, Thạch Đầu Ký là tác phẩm với cái nhìn rất khách quan về bản chất ăn chơi, hưởng thụ của giai cấp quan lại quý tộc, đặc biệt là quan lại quý tộc triều Thanh và sự suy tàn của giai cấp ấy. Nói cách khác, khi xây dựng tác phẩm chương hồi này, Tào Tuyết Cần vừa đứng trên vị thế chủ quan của một người trong cuộc, vừa đứng ở vị thế khách quan của một chứng nhân.

Mới viết dang dở được 80 chương, Tào Tuyết Cần qua đời.

2.2 Tóm tắt nội dung

Tác phẩm xoay quanh câu chuyện tình duyên trắc trở giữa hai anh em con cô con cậu: Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc, từ đó mô tả cuộc sống nhiều mặt của một đại gia đình quý tộc đời Minh từ lúc cực thịnh cho đến lúc suy vi trong vòng tám năm.

Tiểu thuyết mở đầu bằng một huyền thoại: Nữ Oa luyện đá ngũ sắc vá trời, luyện được năm vạn lẻ một viên. Viên linh thạch còn thừa được đưa về trời chăm sóc cây tiên Giáng Châu. Thần Anh và Giáng Châu duyên nợ, chịu ơn nhau nên phải đầu thai xuống hạ giới để “lấy hết nước mắt của đời ta để trả lại cho chàng”. Từ đó dẫn ra bao nhiêu oan gia phong lưu đều phải xuống trần để trả duyên nợ, sinh ra bao nhiêu chuyện sau này.

Đá thiêng hóa thành Giả Bảo Ngọc. Cây thiêng hóa thành Lâm Đại Ngọc. Gia đình họ Giả vốn có nhiều công lao với triều đình, số lượng kẻ hầu người hạ có lúc lên tới 448 người, sống trong hai tòa dinh cơ tráng lệ bậc nhất Kinh thành. Ninh Quốc công và Vinh Quốc công là hai anh em ruột. Ninh Công là trưởng, sau khi mất con lớn là Giả Đại Hóa tập tước. Con cả Giả Phụ mất sớm, con thứ Giả Kính tập tước. Giả Kính chỉ say mê tu tiên luyện đan nên nhường cho con lớn Giả Trân tập tước, con gái thứ là Giả Tích Xuân được đem sang ở trong phủ Vinh Quốc. Giả Trân (vợ Vưu Thị) có một đứa con trai là Giả Dung (vợ là Tần Khả Khanh), hai cha con chẳng chịu học hành, chỉ lo chơi bời cho thỏa thích, đảo lộn cả cơ nghiệp phủ Ninh. Còn phủ Vinh, sau khi Ninh Công chết, con trưởng là Giả Đại Thiện tập tước. Sau khi mất, Vợ Thiện là Giả mẫu (họ Sử) trở thành người cầm cân nảy mực của gia đình. Giả mẫu có ba con, con trưởng là Giả Xá (vợ là Hình phu nhân) được tập tước. Xá có con trai là Giả Liễn (vợ là Vương Hy Phượng) và con gái (con nàng hầu) là Giả Nghênh Xuân. Em của Xá là Giả Chính (có vợ là Vương phu nhân) được Hoàng thượng đặc cách phong tước. Giả Chính có ba người con, con lớn Giả Châu (vợ là Lý Hoàn) mất sớm, để lại một con trai là Giả Lan; con gái thứ Nguyên Xuân tiến cung làm phi tử ; Giả Bảo Ngọc là cậu ấm hai, sinh ra đã ngậm một viên “Thông linh Bảo Ngọc”, là niềm hi vọng của gia đình họ Giả. Ngoài ra còn có Giả Thám Xuân và Giả Hoàn là con của nàng hầu Triệu Di Nương. Giả Chính và Giả Xá còn có một em gái tên Giả Mẫn, lấy chồng là Lâm Như Hải người Cô Tô, làm quan Diêm chính thành Duy Dương, có một cô con gái tên Lâm Đại Ngọc. Bố mẹ mất sớm, Đại Ngọc được Giả mẫu đem về nuôi trong phủ Vinh Quốc.

Trong Vinh quốc phủ còn có gia đình của Tiết phu nhân, vốn là em gái Vương phu nhân, cùng con trai cả Tiết Bàn và con gái Tiết Bảo Thoa vừa vào Kinh cùng đến ở.

Tình Văn đang ốm vùng dậy vá áo cừu

Vì con gái của Giả Chính là Nguyên Xuân được vua phong là Nguyên phi nên để mỗi lần về tỉnh thân, phủ Vinh quốc cho xây dựng vườn Đại quan cực kì tráng lệ huy hoàng. Khu vườn Đại quan này chỉ dành cho 12 cô tiểu thư xinh đẹp của hai phủ Vinh và phủ Ninh lui tới vui chơi. Giả Bảo Ngọc là cậu ấm duy nhất được lui tới và tìm được người tâm đầu ý hợp là Lâm Đại Ngọc. Nhưng mọi người trong gia đình không muốn cuộc hôn nhân này diễn ra. Lâm Đại Ngọc là người con gái dung mạo tuyệt sắc, là một tâm hồn thi phú đích thực nhưng vô cùng nhạy cảm và mảnh mai, lại cám cảnh ăn nhờ ở đậu nên tính tình càng thêm sầu bi, cô độc. Cho nên nàng thương hoa, khóc hoa, chôn hoa, tâm hồn nàng như một sợi tơ đàn mảnh mai, bất kể một giọt mưa thu hay tơ liễu bay đều âm vang một điều bi thương đứt ruột. Nàng cho rằng Bảo Ngọc không cần thi cử, làm quan; lánh xa công danh phú quý. Trong khi đó, Bảo Thoa, người con gái đài các, sắc sảo, đức hạnh theo đúng khuôn phép chuẩn mực phong kiến lại luôn khuyến khích Bảo Ngọc học hành đỗ đạt để lọt vào tầm ngắm của các bậc huynh trưởng trong dòng họ. Lúc đầu, Bảo Ngọc còn phân vân trước tình yêu của Bảo Thoa, “gần cô chị thì quên khuấy cô em”; song dần dần, nhận thấy Bảo Thoa chỉ mong ngóng cái danh “lập thân”, nên Bảo Ngọc đã dành trái tim mình cho Đại Ngọc, mong muốn lấy nàng làm vợ. Gia đình họ Giả coi đó là một tai họa.

Phần sau :

Trong lúc thế lực của hai phủ họ Giả bị lung lay do mắc tội với triều đình, cả hai phủ đều bị phân li, kẻ chết người đi đày, trong một cố gắng cuối cùng nhằm cứu vãn gia tộc, Phượng Thư (chị dâu của Bảo Ngọc) đã đặt kế tráo hôn. Khi mở khăn che mặt cô dâu thấy không phải Đại Ngọc, Bảo Ngọc bỏ đi, về sau hóa thành đá. Lâm Đại Ngọc nghe tiếng pháo đám cưới của Bảo Ngọc, uất ức phát bệnh, ho ra máu mà chết. Kết thúc pho truyện là một khúc nhạc ai oán cho cuộc sống vương giả như mây tan bèo dạt, như một “giấc mộng trong chiếc lầu hồng” như một sự chiêm nghiệm về lẽ đời của họ Tào.

Cũng có một kết thúc khác là sau đám cưới ấy, Lâm Đại Ngọc chết, còn Bảo Ngọc chấp nhận sống với Bảo Thoa. Sau này, gia đình lung lay, bị tịch thu tài sản, Giả Chính đi làm quan xa nhà, luôn viết thư về giục giã hai chú cháu Bảo Ngọc và Giả Lan học hành chăm chỉ. Cuối cùng, Bảo Ngọc và Giả Lan đều đỗ cử nhân, nhưng ngay sau đó Bảo Ngọc bỏ nhà đi tu. Bảo Thoa thì đang mang thai đứa bé – hi vọng của nhà họ Giả. Nhưng cái kết này không được độc giả yêu thích, cũng có thuyết cho là của người sau thêm vào

2.3 Giá trị nghệ thuật

Hồng lâu mộng không những có một nội dung mới mang ý nghĩa thời đại, nó còn làm được một việc lớn lao nữa là đổi mới thi pháp tiểu thuyết Trung Quốc. Tiểu thuyết Trung Quốc trước đây, chủ yếu là tiểu thuyết chương hồi như Tam quốc chí diễn nghĩa, Thủy hử, Tây du ký… thiên về mô tả hành động, miêu tả hoạt động bên ngoài và lời nói của nhân vật. Con người trong những tiểu thuyết đó, còn giản đơn, nhất quán trong một tính cách, rạch ròi trung, nịnh đôi đường. Những truyện ngắn “truyền kì”, những truyện ngắn trong Liêu Trai chí dị (5) đã bắt đầu thấm đẫm màu sắc con người thị dân với những khát vọng nồng nhiệt hơn, phức tạp hơn nhưng vẫn chưa có một thi pháp tiểu thuyết thực sự phản ánh một cách nhìn mới về con người. Hồng lâu mộng đã làm được việc đó.

Tào Tuyết Cần có tư tưởng tiến bộ nên Hồng lâu mộng có ý nghĩa phê phán xã hội phong kiến sâu sắc. Nhưng nếu ông thiếu cái khả năng biểu hiện nghệ thuật thật cao, thì sức mạnh của nhà nghệ sĩ ở ông không thể phát huy được xuất sắc như thế. Tào Tuyết Cần một mặt kế thừa kinh nghiệm sáng tác của các tác gia thời đại trước, mặt khác mở đường và sáng tạo thêm, đưa nghệ thuật sáng tác tiểu thuyết cổ điển lên đỉnh cao mới.

 Thành tựu to lớn của Hồng lâu mộng trước hết thể hiện ở nghệ thuật xây dựng nhân vật, và điều đặc biệt là xây dựng rất nhiều nhân vật cùng một lúc. Trong đó có nhiều nhân vật đều do tác giả dựa vào đời sống mà sáng tạo nên và điều đặc sắc là “loại kiểu” nhân vật này xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử văn học Trung Quốc. Những nhân vật đó sống động, có máu thịt, có cá tính rõ nét. Có một số nhân vật nhà văn chỉ phác họa sơ qua vài nét cũng để lại ấn tượng rất sâu sắc cho người đọc. Đáng chú ý là, trong Hồng lâu mộng, Tào Tuyết Cần miêu tả nhiều nhất là phụ nữ, mà chủ yếu lại là những thiếu nữ giống nhau hoặc na ná như nhau về độ tuổi, hoàn cảnh sống, cách sống. Rõ ràng điều đó làm cho việc miêu tả gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng Tào Tuyết Cần không những có thể miêu tả được hết sức rõ ràng cá tính của từng người, mà đến cả những tính cách gần giống nhau, chỉ khác ở những nét đặc trưng hết sức tinh tế, cũng được ông khắc họa rõ ràng tỉ mỉ. Ví dụ tính ôn hòa, nhân hậu, dịu dàng của Bình Nhi khác với tính ôn hòa, nhân hậu, dịu dàng của Tập Nhân ; tính phóng khoáng bộc trực của Sử Tương Vân khác với tính phóng khoáng bộc trực của chị ba Vưu ; Lâm Đại Ngọc và Diệu Ngọc đều có tính kiêu kì, cô độc, nhưng họ lại có điểm khác nhau, một người nhập thế, còn người kia thì xuất thế. Tính kiêu kì cô độc ở Lâm Đại Ngọc khiến người ta cảm thấy nóng, nhưng cũng tính này ở Diệu Ngọc lại làm cho người ta thấy lạnh. Quả là “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”! Chính vì vậy, Hồng lâu mộng còn có lúc được người ta gọi là Thập nhị kim thoa!

Đặc điểm về mặt sáng tác Nghệ thuật của Hồng Lâu Mộng là Chủ nghĩa hiện thực nghiêm ngặt. Bộ tiểu thuyết sở dĩ sinh động, tự nhiên đến mức hầu như không thấy được dấu vết tô vẽ gì cả, là có quan hệ mật thiết với đặc điểm ấy. Khi miêu tả, tác giả đã phản ánh tỉ mỉ sâu sắc nhưng lại khái quát cao độ bộ mặt chân thực của cuộc sống. Mỗi người mỗi việc, tác giả không hề xử lý giản đơn, như trong hồi mở đầu cuốn sách, ông đã nói: “Đều là theo dấu tìm vết, không dám thêm bớt xuyên tạc”. Chính vì vậy mà HLM càng tỏ ra tự nhiên, giống thật mà lại phong phú muôn màu muôn vẻ như chính bản thân cuộc sống vậy.

Hồng lâu mộng là một bức tranh hiện thực rộng lớn về xã hội phong kiến Trung Quốc trên con đường suy tàn. Cái vẻ ngoài tôn nghiêm nền nếp không che đậy được thực chất mục ruỗng của giới thượng lưu sống trong Giả phủ. Cuộc sống xa hoa, dâm ô cố hữu của giai cấp bóc lột và những mối quan hệ tàn nhẫn giữa họ với nhau đã đưa Giả phủ vào con đường suy tàn không cứu vãn được. Đó chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội Trung Quốc đời Thanh. Cái cảm giác “cây đổ vượn tan”, “chim mỏi về rừng” đã chi phối ngòi bút Tào Tuyết Cần, chứng tỏ ông là nhà văn hiện thực báo hiệu buổi hoàng hôn của chế độ phong kiến. Với nhãn quan của một người có tư tưởng dân chủ, nhà văn còn nhìn thấy những con người mới mang tư tưởng phản truyền thống. Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc chính là những đứa con “bất hiếu” của gia đình mình, họ chống quan niệm trọng nam khinh nữ truyền thống, chán ghét khoa cử công danh, theo đuổi một cuộc sống tự do, chống lại khuôn phép ràng buộc. Họ yêu nhau vì phản nghịch, càng phản nghịch họ càng yêu nhau. Đó là hồi âm của cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa tư tưởng dân chủ sơ khai và tư tưởng phong kiến.

  1. BIỂU HIỆN CỦA HUYỀN THOẠI”MỘC THẠCH TIỀN MINH” TRONG TÁC PHẨM”HỒNG LÂU MỘNG”

1.Hiện thân của Thần Anh – Giả Bảo Ngọc

1.1 Khi còn là Thần Anh – hòn đá thiêng ở núi Thanh Ngạnh

Nói đến Thần Anh thì chúng ta liên hệ một phần đến huyền thoại “Nữ Oa luyện đá vá trời”. Khi xưa Nữ Oa luyện đá vá trời ở đỉnh Vô Kê trên núi Đại Hoang, luyện được ba vạn sáu nghìn năm trăm linh một viên, mỗi viên cao mười hai trượng. Nhưng bà chỉ dùng ba vạn sáu nghìn năm trăm viên, còn thừa lại một viên bỏ lại ở chân núi Thanh Ngạnh thì Thần Anh chính là viên đá đó. Sau khi hưởng được những tinh hoa của trời đất và tu luyện thì viên đá này đã có linh tính. Ngay từ lúc ra đời số phận của Thần Anh đã gặp nhiều truân chuyên, vốn Thần Anh ra đời vì một nhiệm vụ hết sức cao cả là dùng để vá trời nhưng Thần Anh lại bị bỏ lại, không được dùng đến nên Thần Anh luôn cảm thấy mình vô tài, bị loại nên hết sức tủi thân. Một ngày Thần Anh thấy có hai vị nhà sư và đạo sĩ đi ngang qua cốt cách phong độ khác thường, cười cười nói nói, tù xa đi đến rồi dừng và ngồi bên hòn đá nói chuyện. Lúc đầu khi nghe hai vị bàn đến chuyện mây núi, bể mù, thần tiên, huyền ảo,… thì nó không quan tâm nhưng đến khi nghe hai vị bàn đến việc trần gian thì nó hết sức chú tâm và ý nghĩ muốn xuống cõi trần để mà hưởng vinh hoa phú quý của Thần Anh dần được hình thành. Nhà sư sau khi nghe nổi lòng của Thần Anh động lòng niệm chú, viết bùa biến Thần Anh từ viên đá xù xì thành một viên ngọc báu sáng long lanh, thu hình lại nhỏ bằng viên ngọc nhỏ đeo dưới dây quạt. Nhưng dù hóa thành một viên ngọc nhưng hiềm một nổi là không có giá trị thực nên nhà sư đã khắc vào vài chữ để mọi người trông thấy biết ngay là vật lạ. Dù đã được hai vị nhà sư và đạo sĩ khuyên ngăn “Ngọc lành có vết, việc đời đa đoan” tưởng nhưng Thần Anh vẫn nhất quyết đòi xuống trần, chúng ta thấy ở đây có sự xuất hiện của mô-típ tiên giáng trần. Nếu như các vị tiên kia giáng trần vì vi phạm thiên quy bị đày xuống trần thì Thần Anh xuống trần vì động lòng phàm tục, ham vinh hoa phú quý nơi trần thế, khao khát trần giang.

Nếu huyền thoại “Nữ Oa luyện đá vá trơi” hiện ra một cách hiện thực thì huyền thoại “Mộc thạch tiền minh” lại được kể một cách mờ ảo, nó thông qua giấc mộng của Chân Sĩ Ẩn- một nhà hương hoạn,tính tình điềm đạm, không thích công danh lợi lộc, đến tuổi năm mươi mà chỉ có một mụn con gái tên là Liên Anh mới lên ba tuổi. Giữa một lúc mùa hạ ngày dài, Sĩ Ẩn ngồi rỗi trong thư phòng, mỏi tay buông sách, ngủ gục xuống ghế. Trong lúc mơ màng thì thấy mình đi đến một chổ và không biết thuộc địa phương nào, chợt gặp được một vị đạo sĩ. Sau khi trò chuyện và tìm hiểu thì mới biết rằng vị đạo sĩ đang trên đường đưa bọn oan gia phong lưu đổi kiếp xuống trần và được nghe đến huyền thoại “Mộc thạch tiền minh”.

1.2 Số phận của đá Thần Anh sau khi xuống trần hóa kiếp thành Giả Bảo Ngọc

1.2.1 Sự ra đời kỳ lạ của Giả Bảo Ngọc

Xoay quanh nhân vật Giả Bảo Ngọc, anh ta chính là hiện thân của Thần Anh (hòn đá thiêng) làm chức chầu chực ở cung Xích Hà ngày ngày lấy nước cam lộ tưới bón cho cây Giáng Châu. Sau một thời gian hấp thụ tinh hoa hấp thụ tinh hoa của trời đất lại được nước cam lộ chăm bón nên Giáng Châu thoát được hình cây, hóa thành hình người, tu luyện thành người con gái. Sau một thời gian thì Thần Anh bị lửa trần rực cháy trong lòng nhân gặp đời thái bình thịnh vượng muốn xuống cõi trần để qua kiếp “ảo duyên”, nên đã đến trước mặt vị tiên Cảnh Ảo ghi sổ. Sau hóa kiếp xuống trần, Thần Anh đầu thai vào gia đình họ Giả, làcon thứ 3 của Giả Chính và vợ là Vương thị.C huyện lạ là trước khi Giả Bảo Ngọc chào đời, Vương thị đã sinh đứa con đầu lòng là Giả Châu, mười bốn tuổi thi đỗ tú tài, lấy vợ sinh con, nhưng chưa đến hai mươi tuổi thì ốm chết. Con thứ hai là con gái, đẻ đúng ngày mùng một tháng giêng cũng lag sự lạ. Mấy năm sau lại sinh tiếp một vị công tử. Chuyện lai càng lạ hơn khi lọt lòng, trong miệng cậu ta ngậm một hòn ngọc ngũ sắc, trên hòn ngọc có ghi nhiều chữ nên đặt tên là Bảo Ngọc và một điều trùng hợp là ngày Giả Bảo Ngọc ra đời ngày Giả Châu mất. Ngay từ cái tên của nhân vật ta nhận thấy được mối liên hệ của hai nhân vật này “Châu” và “Ngọc” là hai thứ quý giá đối với người trần gian

1.2.2 Bản chất của Giả Bảo Ngọc – bản chất của 1 hòn đá, 1 con người tự nhiên.

Ngay từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành thì tính cách của Bảo Ngọc đã giống phần nào tích cách của Thần Anh. Nếu Thần Anh bị lửa trần rực cháy và muốn xuống cõi trần để qua kiếp “ảo duyên” thì Giả Bảo Ngọc ngay tù mới sinh ra đã khác thường “ Khi đầy năm, Giả Chính (cha của Giả Bảo Ngọc) muốn thử chí hướng của con về sau thế nào mới đem những đồ chơi bày r trước mặt để xem nó quờ lấy cái gì. Ngờ đâu nó chẳng lấy gì, mà chỉ quờ lấy phấn sáp, trâm vòng”. Rồi khi khi lên bảy, lên tám thì tính khí ngang ngược nhưng rất thông minh và chỉ thích chơi với nữ nhi nó nói: “Xương thịt của con gái là nước kết thành, xương thịt của con trai là bùn kết thành. Tôi trông con gái thì như bị người tôi nhẹ nhàng, khoan khoái trông thấy con trai thì nhử bị phải hơi dơ bẩn”. Đá cũng là từ bùn, bản chất của Giả Bảo Ngọc cũng là bản chất của một viên đá. Bởi vì ngay từ đầu Giả Bảo Ngọc chính là một viên đá khi xuống trần thì thành viên ngọc quý, vì đối với người trần thì bất kì vật gì của tiên giới cũng điều đẹp và quý nhưng trong con mắt của tiên giới thì nó cũng chỉ là viên đá. Giả Bảo Ngọc ý thức được bản chất của mình, cũng là do bùn đất kết thành, mang bản chất của một viên đá, một bản chất hết sức tự nhiên, con người tự nhiên chống lại tất cả những thứ ràng buộc, quy định của chế độ phong kiến đối với con người. Chẳng hạn như không coi trọng việc học hành, thi cử, nếu xã hội phong kiến tồn tại “trọng nam khinh nữ” thì Giả Bảo Ngọc lại quyết “trọng nữ khinh nam”. Anh ta phản bác, chống lại những luật lệ, ràng buộc của xã hội, cái gì xã hội phong kiến đề cao thì anh ta phủ nhận hết, không đi vào khuôn phép của xã hội mà chỉ sống tự nhiên như thế, sống bằng bản tính tự nhiên của mình.

Để khẳng định bản chất tự nhiên của Giả Bảo Ngọc, trong “Hồng lâu mộng” còn có sự xuất hiện của nhân vật Chân Bảo Ngọc. Hai nhân vật này hoàn toàn giống nhau về ngoại hình ngoài giống hệt nhau, đến mức Giả Bảo Ngọc đến nhà họ Chân bị mọi người lầm tưởng là Chân Bảo Ngọc. Chân Bảo Ngọc vào phủ Giả, đến như Giả Mẫu vẫn tưởng đó là cháu yêu Giả Bảo Ngọc. Thứ hai, có mối liên hệ đặc biệt với nữ giới, cả hai đều yêu mến, tôn trọng phụ nữ, đồng thời cũng luôn được nữ giới chở che, bảo bọc. Nếu ngay từ bé, Giả Bảo Ngọc cho rằng “Xương thịt của con gái là nước kết thành” thì Chân Bảo Ngọc lại bảo “Khi nói đến phụ nữ thì đàn ông nên súc miệng bằng trà thơm rồi hẵn nói và đối với phụ nữ tôi còn trân trọng hơn cả Ngọc hoàng”. Điểm khác nhau giữa hai nhân vật này chính là Giả Bảo Ngọc khinh thường khoa cử công danh bao nhiêu thì Chân Bảo Ngọc lại tỏ ra khao khát bấy nhiêu. Trước khi gặp Chân Bảo Ngọc, Giả Bảo Ngọc vô cùng háo hức những tưởng gặp được tri kỉ. Trò chuyện không lâu, Giả Bảo Ngọc đã không thể chịu nổi vì những lời mà Chân Bảo Ngọc nói ra chẳng khác gì giọng lưỡi của bọn “mọt ăn lộc”.Nếu Giả Bảo Ngọc là một viên ngọc giả thì Chân Bảo Ngọc là một viên ngọc thật, hai nhân vật này bổ sung và soi chiếu cho nhau, Giả Bảo Ngọc là con người của tự nhiên và Chân Bảo Ngọc là con người của xã hội, hai nhân vật này vừa tương đồng vừa đối lập, đối lập nhưng để bổ sung cho nhau, không phải là cái này triệt để cái kia bởi trong một con người vừa tồn tại con người tự nhiên và con người xã hội.

Qua bản chất tự nhiên của Giả Bảo Ngọc ta nhận thấy cái nhìn sâu sắc của Tào Tuyết Cần. Số phận và tính cách của Bảo Ngọc đã được tác giả miêu tả không đơn giản. Đó là mâu thuẫn giữa khát vọng tự do và sự ràng buộc nặng nề của gia đình và xã hội phong kiến. Đó là tình yêu chân thành và quý báu như chính sinh mệnh của anh ta và lạ thay, anh ta hầu như chẳng làm được gì, chẳng chiến đấu dũng manh gì để đoạt lấy hạnh phúc! Mọi việc gần như đã phó mặc! Trước khi chết, Lâm Đại Ngọc oán giận, đau buồn đốt khăn tặng, đốt tập thơ…, không phải là không có lý! Anh ta chưa bao giờ xứng đáng là một trang “tu mi nam tử” có lý tưởng, kiên định! Vấp phải những mâu thuẫn nghiệt ngã của thời đại, anh ta sinh ra đau thần kinh, mắc chứng “ngây”, cứ cười hì hì suốt ngày. Điều đó càng đẩy sâu anh ta vào bi kịch.

1.2.3 Mối quan hệ với cây Giáng Châu – Lâm Đại Ngọc

Giả Bảo Ngọc có nghĩa là viên ngọc quý gia bảo, xuất thân là một công tử quyền quý trong nhà họ Giả và có những mối tình ngang trái với những cô gái trong gia đình này. Giả Bảo Ngọc khi sinh ra đã ngậm một viên “Thông linh Bảo Ngọc”, là niềm hi vọng của gia đình họ Giả.

Giả Bảo Ngọc là cậu ấm duy nhất được lui tới và tìm được người tâm đầu ý hợp là Lâm Đại Ngọc. Nhưng mọi người trong gia đình không muốn cuộc hôn nhân này diễn ra. Lâm Đại Ngọc cho rằng Giả Bảo Ngọc không cần thi cử, làm quan và lánh xa công danh phú quý nhưng Bảo Thoa, chị họ, và cũng là một người yêu khác của Bảo Ngọc lại luôn khuyến khích Bảo Ngọc học hành đỗ đạt để lọt vào tầm ngắm của các bậc huynh trưởng trong dòng họ. Lúc ban đầu, Bảo Ngọc còn phân vân trước tình yêu của Bảo Thoa và Đại Ngọc song dần dần, nhận thấy Bảo Thoa chỉ mong ngóng cái danh cái lợi, nên Bảo Ngọc đã hết lòng yêu Đại Ngọc, mong muốn lấy nàng làm vợ. Gia đình họ Giả coi đó là một tai họa và kiên quyết phản đối đôi uyên ương này. Trải qua nhiều biến cố và sóng gió nhưng Bảo Ngọc không lấy được Đại Ngọc nên phẩn uất hộc máu mà chết.

Dù khi còn là Giáng Châu và Thần Anh hay khi xuống trần hóa kiếp thành Lâm Đại Ngọc  và Giả  Bảo Ngọc giữa hai nhân vật này vẫn tồn tại một mối quan hệ. Khi còn ở chốn thần tiên thì Thần Anh đã bên cạnh tưới nước Cam lộc giúp Giáng Châu phát triển và hóa thành hình một cô gái thì ở kiếp trần thế cả hai lớn lên bên nhau thành một cặp song ngọc, tuy cả hai thường cãi vã hờn giận nhưng tình cảm lại vô cùng thắm thiết, họ hiểu nhau và thông cảm cho nhau sâu sắc. Cả hai 2 nhân vật Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc dường như ngờ ngợ biết kiếp trước và duyên nợ của nhau. Đại Ngọc vẽ tranh họa ngọn cỏ yểu điệu thướt tha lại giữ mấy viên đá bày trên giá sách của mình khiến Bảo Ngọc trông thấy, xúc động mà làm thơ:

“Yêu quý một hòn đá, lung linh từ tự nhiên

Lai lịch từ ngày xưa trần thế tự bao giờ

Có chí nên toàn vẹn, bất tài nên vá trời.

Không mong được ban thưởng tự do trở thành tiên”

Bên cạnh đó, Hồng lâu mộng thập nhị khúc cũng góp phần dự báo cuộc đời các nhân vật chính trong tiểu thuyết. Khúc giáo đầu nói về những kẻ si tình nói chung. Khúc thứ nhất “Chung thân ngộ”, một lần nữa Đại Ngọc và Bảo Thoa được đặt trong thế đối xứng cây-ngọc-vàng để cuối cùng là bi kịch tình yêu của Đại Ngọc và bi kịch hôn nhân của Bảo Thoa. Khúc thứ hai “Uổng ngưng mi” như lời dự báo, thở than cho mối tình đầy nước mắt của Bảo Ngọc và Đại Ngọc.. Rõ ràng mối duyên tiền định ” Mộc thạch tiền minh”  của Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc là một sợi dây xuyên suốt tác phẩm nối kết bao nhiêu sự kiện bề bộn lại với nhau. Nhưng bao trùm lên thiên tiểu thuyết ấy là một ý nghĩa xã hội rộng lớn dưới thời phong kiến Mãn Thanh đang trên đà thoái trào.

  1. Hiện thân của Giáng Châu – Lâm Đai Ngọc

2.1 Khi còn là cây Giáng Châu

Theo huyền thoại mở đầu tác phẩm qua lời của Không Không Đại sư trong mộng ảo của Chân Sỉ Ẩn thì nhờ sự giúp đỡ của Thần Anh, Giáng Châu đã hấp thụ tinh hoa của trời đất, lại được nước cam lộ do Thần Anh chăm bón, cây Giáng Châu thoát được hình cây, hóa thành hình người, tu luyện thành người con gái, suốt ngày rong chơi ngoài cõi trời Ly Hận đói thì ăn quả “Mật Thanh” khát thì uống nước bể “quán sầu”. Chỉ vì chưa trả được ơn bón tưới, cho nên trong lòng nó vẫn mắc míu, khi nào cũng cảm thấy như còn vương một mối tình gì đây. Gần đây, Thần Anh bị lửa trần rực cháy trong lòng, nhân gặp trời đất thái bình thịnh vượng muốn xuống cõi trần để qua kiếp “ảo duyên”, nên đã đến trước mặt vị tiên Cảnh ảo ghi sổ. Cảnh ảo liền hỏi đến mối tình bón tưới, biết chưa trả xong, muốn nhân đó để kết liễu câu chuyện. Nàng Giáng Châu nói: “Chàng ra ơn mưa móc mà ta không có nước để trả lại. Chàng đã xuống trần làm người, ta cũng phải đi theo. Ta lấy hết nước mắt của đời ta để trả lại chàng, như thế mới trang trải xong!”. Vì thế dẫn ra bao nhiêu oan gia phong lưu đều phải xuống trần, để kết liễu án đó.

Cây thiêng giáng trần thành Lâm Đại Ngọc. Đại Ngọc là con gái của Lâm Như Hải và Giả Mẫn. Lâm Như Hải là người Cô Tô, đỗ Thám hoa, bổ là Tuần diêm ngự sử thành Duy Dương, mất năm Đại Ngọc khoảng 14 tuổi. Giả Mẫn vốn là con út của Giả Đại Thiện và Sử Thái Quân phủ Vinh Quốc, em ruột của Giả Xá, Giả Chính, mất năm Đại ngọc mới 5 tuổi. Đại Ngọc từ bé lớn lên ở thành Dương Châu, là con gái một nên được bố mẹ yêu quý như ngọc, lại được mời thầy là Giả Vũ Thôn về dạy học. Đến năm Đại Ngọc lên năm thì mẹ mất. Tang ma xong, Giả mẫu đón cháu gái về Kinh để tiện chăm sóc. Vừa gặp Đại Ngọc, Bảo Ngọc đã cảm thấy quyến luyến sâu sắc. Cuộc sống trong Giả phủ xa hoa lộng lẫy nhưng vô cùng phức tạp, đầy rẫy những chuyện dâm ô lường gạt. Tuy được Giả mẫu yêu chiều, đồ ăn thức mặc đều nhất nhất như Bảo Ngọc nhưng vẫn không khỏi bị cảm giác là “nữ nhân ngoại tộc”. Đến năm 14 tuổi thì Lâm Như Hải cũng qua đời. Đại Ngọc từ đó mồ côi cả cha lẫn mẹ, không người thân thích, phải ăn nhờ ở đậu hoàn toàn. Nàng đã ốm yếu từ khi sinh ra, thân thể mỏng manh như cánh hoa trôi bèo dạt, lại thêm tủi phận khiến tâm hồn vốn đã đa cảm lại ngày một nhiều sầu nhiều bệnh, hay nghĩ ngợi, để ý, lại hay tự ái. Nàng và Bảo Ngọc lớn lên bên nhau thành một cặp song ngọc, tuy cả hai thường cãi vã hờn giận nhưng tình cảm lại vô cùng thắm thiết, họ hiểu nhau và thông cảm cho nhau sâu sắc. Giữa lúc đó, có một người thứ ba xuất hiện. Đó là Tiết Bảo Thoa, đôi bạn con dì với Bảo Ngọc, cũng đến Giả phủ ở nhờ. Nàng dường như đối nghịch với Đại Ngọc, xinh đẹp đầy đặn như trăng rằm, cao sang, quý phái, lại nền nã đức hạnh theo đúng những khuôn thước phong kiến. Bảo Ngọc nhiều lúc cũng rung động trước Bảo Thoa nhưng nhận ra nàng chỉ luôn muốn hướng cậu theo con đường công danh lập thân mà cậu chán ghét nên dần dần trái tim bảo Ngọc dành hẳn cho Đại Ngọc, người duy nhất hiểu Bảo Ngọc và không khuyên cậu đi thi đỗ đạt làm quan. Nhưng nhà họ Giả coi đó là tai họa nên mong muốn Bảo Ngọc thành thân với Bảo Thoa. Phượng Thư, chị dâu của Bảo Ngọc, dùng kế “tráo dường đổi cột” để lừa Bảo Ngọc cưới Bảo Thoa. Đại Ngọc đau khổ tuyệt vọng nên mang tâm bệnh. Nàng đốt thơ, đốt khăn để dứt tình rồi chết trong nỗi uất ức, oán hận trong lúc cả nhà mừng đám cưới Bảo Ngọc.

Trong tác phẩm chúng ta nhận thấy dường như 2 nhân vật Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc dường như ngờ ngợ biết kiếp trước và duyên nợ của nhau. Đại Ngọc vẽ tranh họa ngọn cỏ yểu điệu thướt tha lại giữ mấy viên đá bày trên giá sách của mình khiến Bảo Ngọc trông thấy, xúc động mà làm thơ:

“Yêu quý một hòn đá, lung linh từ tự nhiên

Lai lịch từ ngày xưa trần thế tự bao giờ

Có chí nên toàn vẹn, bất tài nên vá trời.

Không mong được ban thưởng tự do trở thành tiên”.

2.2.Lâm Đại Ngọc- Bản chất một gốc cây.

Tiểu thuyết mở đầu bằng một huyền thoại: Nữ Oa luyện đá ngũ sắc vá trời, luyện được năm vạn lẻ một viên. Viên linh thạch còn thừa được đưa về trời chăm sóc cây tiên Giáng Châu. Thần Anh và Giáng Châu duyên nợ, chịu ơn nhau nên phải đầu thai xuống hạ giới để “lấy hết nước mắt của đời ta để trả lại cho chàng”. Từ đó dẫn ra bao nhiêu oan gia phong lưu đều phải xuống trần để trả duyên nợ, sinh ra bao nhiêu chuyện sau này.

Cây thiêng hóa thành Lâm Đại Ngọc có thể do vậy mà nàng mang bản chất là một gốc cây, Nàng đã ốm yếu từ khi sinh ra, thân thể mỏng manh như cánh hoa trôi bèo dạt, lại thêm tủi phận khiến tâm hồn vốn đã đa cảm lại ngày một nhiều sầu nhiều bệnh, hay nghĩ ngợi, để ý, lại hay tự ái. Nàng và Bảo Ngọc lớn lên bên nhau thành một cặp song ngọc, tuy cả hai thường cãi vã hờn giận nhưng tình cảm lại vô cùng thắm thiết, họ hiểu nhau và thông cảm cho nhau sâu sắc. Giữa lúc đó, có một người thứ ba xuất hiện..

Đại Ngọc ngây thơ, đẹp đến lạ, nàng đau khổ tuyệt vọng mà mang nên tâm bệnh, nàng đốt thơ, đốt khăn để dứt tình rồi chết trong nỗi uất ức, oán hận trong lúc cả nhà mừng đám cưới Bảo Ngọc.

Phải chăng chính vì mang bản chất một gốc cây, nàng không thể làm gì để giữ được hạnh phúc, tình yêu của mình, nàng chỉ yêu Bảo Ngọc bàng cả trái tim thê nhưng nàng bất lực, tuyệt vọng nhìn người yêu lấy người khác đến sinh bệnh. Gốc cây dù sống gió bảo táp vẫn không thể di chuyển, không thay đổi vị trí của mình được, phải hứng chịu mưa giông bảo táp, cây cần được chăm sóc, tưới bón hằng ngày phải vậy mới phát triển toàn diện được. Cũng như  Đại Ngọc khi hóa thân từ cây Giáng Châu đã cần được chăm sóc, gia đình cũng khá giả thế nhưng mất mát khi gia đình xảy ra tai ương phải  sống nhờ nhà họ hàng và gặp được Bảo Ngọc- Bảo Ngọc chính là người che chở, người mà nàng tin tưởng và yêu thương nhất, nàng cần được chăm sóc.

Thế nhưng thật trớ trêu khi số phận không như nàng muốn kể từ khi xuất hiện Bảo Thoa xinh đẹp đầy đặn như trăng rằm, cao sang, quý phái, lại nền nã đức hạnh theo đúng những khuôn thước phong kiến thì mọi chuyện đã thay đổi, tuy vẫn yêu nàng nhưng Bảo Ngọc đã có lúc lung lay trước sắc đẹp của Bảo Thoa. Đại Ngọc đã mỏng manh, yếu đuối, chỉ có Bảo Ngọc che chở nay càng âu sầu, lẻ loi, chẳng biết chia sẻ cùng ai, nàng chỉ biết ngắm và nhìn những cánh hoa rơi và khóc, khóc cho hoa tàn cũng chính là khóc cho số phận mỏng manh của mình. Nàng chả biết làm gì ngoài âu sâu, nét mặt nàng buồn đến khó tả, lúc đó nàng càng đẹp thế nhưng nhà họ Giả coi đó là tai họa nên mong muốn Bảo Ngọc thành thân với Bảo Thoa. Phượng Thư, chị dâu của Bảo Ngọc, dùng kế “tráo dường đổi cột” để lừa Bảo Ngọc cưới Bảo Thoa.

Số phận nàng từ đây chìm hẳn trong đau khổ, lụi tàn theo năm tháng, bản chất là gốc cây, sinh ra và lớn  đều phụ thuộc vào thế giới xung quanh, về thiên nhiên, vì vậy mà nàng cũng chỉ có Bảo Ngọc, dẫn đến một cái chết đau đớ cho nàng –một cô gái- một gốc cây.

2.3.Món nợ: nước Cam lộ – nước mắt với Giả Bảo Ngọc

Mở đầu tiểu thuyết, Tào Tuyết Cần đã dựng lên câu chuyện “vay-trả nghiệp chướng” của “bọn phong lưu đa tình”. Mà trước hết là câu chuyện của Thần Anh và Giáng Châu. Thần Anh ngày ngày múc nước sông tưới cho cây khỏi chết héo. Cái cây-chính là linh hồn của một người con gái – sau đã xin nguyện “lấy hết nước mắt của đời ta ra để trả ơn tưới tắm” cho vị cứu tinh. Tiên Ảo cảnh đã tra sổ ân oán và cho chúng xuống trần để trả nợ cho nhau. Thần Anh về sau đầu thai vào họ Giả chính là Giả Bảo Ngọc. Cây cam lộ hóa ra người con gái đẹp đầu thai vào nhà họ Lâm, chính là Lâm Đại Ngọc. Cùng xuống trần gian còn có một “bọn phong lưu đa tình” “sẵn nợ gió trăng” khác nữa, chính là những người con gái trong nhà họ Giả và thân hữu mà vận mệnh mỗi người được ấn định trước tùy theo những nghiệp chướng họ đã tạo ra trong tiền kiếp.

Đôi lông mày điểm màu khói lạt, dường như cau mà lại không cau; đôi con mắt chứa chan tình tứ, dáng như vui mà lại không vui. Má hơi lúm, có vẻ âu sầu; Người hơi mệt trông càng tha thướt. Lệ rớm rưng rưng, hơi ra nhè nhẹ. Vẻ thư nhàn, hoa rọi mặt hồ; dáng đi đứng, liễu nghiêng trước gió. Tim đọ Tỉ Can hơn một trăm khiếu, bệnh so Tây Tử trội vài phân” –  Đó chính là nàng Lâm Đại Ngọc của Tào Tuyết Cần. Một trong những tuyệt mỹ giai nhân với tâm hồn đa cảm đa sầu nhất trong thiên hạ.

Tài nữ đa truân sinh chẳng phùng thời.

Lâm Đại Ngọc lung linh như ánh trăng rằm. Gương mặt mỹ miều phảng phất nét u buồn diễm lệ, nét diễm kều thơ ngây như nụ hoa vừa chớm, cái nhìn u buồn như giọt sương sớm luôn ủ mình trong lá non. Đôi lông mày lá liễu, miệng chúm chím như hoa đào, mắt to tròn long lanh tựa nước hồ thu, ánh nhìn vừa buồn vừa xót xa. Tất cả sự thanh tú ngưng đọng trên gương mặt nàng càng làm tăng thêm sự u buồn tĩnh lặng nhưng lại vô cùng lôi cuốn.

Lâm Đại Ngọc ra đời trong một xã hội phong kiến nhức nhối thói dâm dật, lọc lừa giả dối, con người sống phải hùa theo thời, phải hướng đến chuẩn chung của chế độ phong kiến, thế nên, đang độ tuổi xuân, tràn đầy mơ ước, khát vọng yêu đương mãnh liệt, lại tinh thông thơ ca thi phú cầm kỳ thi họa, sâu sắc hơn người nên Đại Ngọc nhanh chóng rơi vào bi kịch của nước mắt.

Năm Đại Ngọc lên năm thì mẹ mất, nàng được Giả mẫu đón về kinh để chăm sóc. Vừa gặp Đại Ngọc, Giả Bảo Ngọc đã cảm thấy quyến luyến không rời. Từ ngày về phủ của Giả mẫu, cuộc sống của Đại Ngọc bắt đầu chuyển sang chương mới. Tuy được Giả mẫu yêu chiều, sống trong phủ xa hoa lộng lẫy nhưng với Đại Ngọc, đó chẳng qua cũng chỉ là “ăn nhờ ở đậu”. Đến năm 14 tuổi thì cha nàng là Lâm Như Hải cũng qua đời, Đại Ngọc từ đó thành trẻ mồ côi nương tựa nhà người. Tâm thế của nàng vì thế càng tự ti, hay nghĩ ngợi và u sầu.

Có lẽ, mệnh bạc của nàng đã được dự báo từ đây. Vốn ốm yếu bẩm sinh, lại không người thân bên cạnh, Đại Ngọc luôn rơi vào tâm trạng u uẩn, triền miên trong nghĩ ngợi suy tư, thêm vào đó tâm hồn vô cùng nhạy cảm, chuyện gì cũng nghĩ sâu sắc hơn người, dần dà bệnh lại càng thêm bệnh, thân thể lẫn tâm hồn đều yếu đuối như giọt sương mai.

Nàng và Bảo Ngọc cùng lớn lên bên nhau, tình cảm ngày càng khắng khít sáng trong như một đôi ngọc quý. Với nàng, Bảo Ngọc vừa là anh, vừa là tình yêu đầu, vừa là bạn tri kỷ, cùng trải qua những thời khắc đẹp nhất của tuổi hoa niên. Nàng chỉ muốn Bảo Ngọc cứ thế mà sống, mà vui vẻ không sa chân vào chốn thị phi đầy rẫy dối trá, bạc nhược xấu xa của quan lộ. Chính vì điều này làm Bảo Ngọc càng yêu thương gần gũi nàng hơn. Và cũng chính vì thế, trong cái nhìn của nhà họ Giả, Đại Ngọc trở thành bức tường cản trở công danh sự nghiệp của Bảo Ngọc.

 Nàng Lâm Đại Ngọc dành cho Giả Bảo Ngọc một tình cảm vô cùng sâu đậm. Tình yêu thậm chí đã khiến thần trí nàng mê loạn. Chỉ cần Giả Bảo Ngọc tỏ ra thân mật, có chút tình nghĩa với người con gái khác, Lâm Đại Ngọc liền ôm nỗi sầu muộn trong lòng mà thút thít khóc than. Khóc hết nước mắt cho mối tình duy nhất của đời mình, và không hề sợ cái chết, Lâm Đại Ngọc muốn làm một cánh hoa mạnh mẽ lưu lại hương của mình trong trái tim người yêu. Tình yêu đó, Giả Bảo Ngọc sẽ không bao giờ có thể tìm thấy được lần nữa ở nhân gian.

Rất nhiều người nói Lâm Đại Ngọc quá yếu đuối, vì đã khóc cho hoa, vì đã thả những giọt nước mắt trôi theo dòng nước, vì đã quá luỵ tình đến nỗi thiệt thân.

Bản thân tôi thì thấy Đại Ngọc không yếu đuối mà là quá nhạy cảm. Không yếu đuối là vì Đại Ngọc đã dám sống theo cách của mình, mà không chịu bất kỳ một sự ảnh hưởng và uốn nắn nào, đó là cách trả lời can đảm nhất dành cho câu hỏi: Sao cô không chịu làm giống bao người khác để được “bình thường”, và để được yên thân? Tại sao phải khổ sở chịu những lời dè bỉu của người khác? Nhưng Đại Ngọc đâu có khổ sổ khi chịu những lời dè bỉu, vì mỗi lần như vậy, cô đều tự động tránh mặt đi, và không muốn tiếp xúc với họ. Đó là sự can đảm, và khi ta chọn được một cách sống cho mình, thì không thể nói là yếu đuối.

Nhưng Đại Ngọc lại nhạy cảm. Và sự nhạy cảm đó làm mọi thứ trở nên trong suốt và dễ vỡ như những bọt xà phòng thổi bay trong gió. Đại Ngọc nhạy cảm với sự vô thường và tàn phai của đời sống, cho nên cô thương hoa, tiếc hoa và khóc cho hoa. Một cánh hoa, cũng giống như một cánh bướm, chỉ có thể mở mắt nhìn trời cao một lần rồi sẽ vĩnh viễn bị quên lãng. Dù biết là quy luật luân hoàn, nhưng sự nhạy cảm luôn khiến Đại Ngọc phải chảy nước mắt vì biết rằng quy luật này không là ngoại lệ với bất kỳ điều gì từ đá núi cũng sẽ là san phẳng thành cánh đồng cát khô. Lâm Đại Ngọc luỵ tình vì cô tin tưởng quá nhiều vào một tình yêu mạnh hơn quy luật này, nhưng rốt cuộc nếu không thể có cái gọi là tình yêu và can đảm thật sự từ người cô yêu, thì cô vẫn sẽ không chọn cách sống vật vờ quãng đời còn lại.

Nhắc tới nàng, hậu thế vẫn luôn ấn tượng với hình ảnh kinh điển: “Đại Ngọc chôn hoa”. Đó là hình ảnh đầy thi vị, khắc họa chân dung một tuyệt sắc giai nhân mang tâm hồn đa sầu đa cảm, mong manh như giọt pha lê dễ vỡ.

Thậm chí tiếng khóc của nàng còn được mô tả là quá xót xa, bi thương, đến nỗi chim chóc vốn làm tổ trên cây gần đấy cũng thấy quặn lòng mà nối đuôi nhau cất cánh bay đi. Vì tích ấy mà có những vần thơ chan chứa nỗi niềm:

Tần nhi tài mạo thế ứng hy,

Độc bão u phương xuất tú khuê,

Minh yết nhất thanh do vị tận,

Lạc hoa mãn địa điểu kinh phi.

Tạm dịch:

Sắc đẹp nàng kia thật hiếm hoi,

Đơn độc, lẻ loi chốn khuê phòng,

Tiếng ai thút thít nghe thê thảm,

Hoa rơi đầy đất, chim sợ bay.

Lâm Đại Ngọc tuy chỉ thút thít nhỏ lệ mà đã khiến hoa rơi rụng đầy sân, chim chóc thất kinh bay loạn xạ. Xem ra, uy lực của tiếng khóc ấy chẳng phải tầm thường. Huống hồ, nàng còn vì Giả Bảo Ngọc mà nhỏ lệ trọn kiếp, rồi qua đời vì tâm tư héo hon, sầu thảm.

Cuộc đời ngắn tựa Thủy Phù Dung.

   Đại Ngọc ấp ôm tư tưởng tự do dân chủ, lúc nào cũng muốn khẳng định cái tôi cá nhân của mình, lúc nào cũng sống hết lòng vì tình yêu tự do. Đại Ngọc dám thẳng thắn phản kháng những lề thói phong kiến đã lỗi thời và lạc hậu bằng một cái tôi tự do dân chủ. Nàng dám nghĩ, dám làm, tính cách quyết liệt, kiêu kì, cô độc chẳng bao giờ chịu hoà nhập vào những thói giả dối xấu xa của những kẻ thống trị. Thế nhưng cuối cùng, Đại Ngọc vẫn không thoát khỏi một kết cục bi thương. Xã hội phong kiến hàng ngàn năm vững bền ấy đã giày vò, đày đoạ nàng không thôi, Đại Ngọc với tư tưởng tự do dân chủ của mình đã phải sống một cuộc sống đầy nước mắt và chết một cái chết thật thương tâm. Đại Ngọc suốt cuộc đời thanh khiết và cao ngạo, không bao giờ chấp nhận ai coi thường mình. Đại Ngọc đã đấu tranh cho tình yêu của mình được sống. Cuối cùng nàng lìa đời trong sự giằng xé thảm thương của tâm hồn nơi quán Tiêu Tương buồn u ám. Đại Ngọc đã ôm mối hận tình một mình và chết đi âm thầm trong khi các bậc bề trên của gia đình họ Giả đang náo nức chuẩn bị lễ cưới  cho Bảo Ngọc và Bảo Thoa. Giai cấp thống trị phong kiến không chấp nhận một người mang tư tưởng tự do như nàng, họ càng không để tâm đến mối tình si tha thiết trong tim nàng. Lúc Đại Ngọc tắt thở là giờ ăn cưới của Bảo Thoa, quán Tiêu Tương cách quá xa phòng tân hôn nên chẳng ai nghe thấy tiếng khóc thê lương đưa tiễn một  linh hồn nhỏ bé, tội nghiệp. Ngoài trời chỉ có gió lay cành trúc, trăng xế đầu tường, cảnh tượng thê lương ảm đạm.

  1. Sự tương đồng giữa “Thái hư ảo cảnh” và “phủ Quốc vinh”

Đọc qua tác phẩm ta có  thể thấy điểm giông nhau giữa “thái hư ảo cảnh” và “phủ Quốc vinh”:

Thứ nhất về khung cảnh “ thái hư ảo cảnh”: là nơi có khung cảnh tuyệt đẹp, lỗng lẫy, một nơi đẹp như thiên đường, “thái hư ảo cảnh” là mộng trong mộng, là hư huyền của hư huyền.

Một đoạn trong hồi 5 kể chuyện Bảo Ngọc nằm mơ thấy mình theo chân Tần Khả Khanh đến một chỗ nọ. Chỉ thấy đá trắng, lan can đỏ, cây xanh, suối trong, quả là nơi không dấu vết con người, chốn bụi trần không đến. Bảo Ngọc trong mơ hết sức vui vẻ, nghĩ chỗ này thú thật. Ta hẵng sống một đời nơi đây, cho dù có mất đi gia đình cũng được”.Chỗ đó kì thực chính là Đại quan viên về sau. Làm thế nào để chứng minh được điều này? Về cảnh mà nói, hồi 17 kể chuyện Bảo Ngọc theo Giả Chính vào Đại Quan Viên. Đi đến chỗ đình Thấm Phương, tả cảnh vẫn là mấy chữ “đá trắng, lan can đỏ, cây xanh, suối trong” (nguyên văn tám chữ “chu lan bạch thạch, lục thụ thanh khê”).

Hồi 5 kể chuyện Bảo Ngọc mơ dạo chơi Thái Hư ảo cảnh “theo tiên cô đi đến một nơi có toà cổng đá chắn ngang, trên đề bốn chữ Thái Hư ảo cảnh.” Chỗ mà Bảo Ngọc tìm kiếm trong kí ức há chẳng phải là nơi này.

“Phủ quốc vinh”: có dòng suối từ góc tường phía bắc chảy qua, nay cũng chẳng phải lo chuyện khơi dẫn lại. Cây cối núi non tuy cũng chưa được đủ, nhưng được cái chỗ ở của Giả Xá là vườn cũ của phủ Vinh, nên đá cảnh cây cỏ tre trúc cho đến đình tạ lan can… đều có thể dời đến đây được cả.”

là một nơi “Khoảng đất tính từ phía đông nối liền với hoa viên phủ Đông kéo qua phía bắc dài độ ba dặm rưỡi”

Thứ hai về nhân vật: trong  “ thái hư ảo cảnh” Đại Quan Viên là cõi thái hư ảo cảnh của chàng Bảo Ngọc và 12 cô thanh nữ, chữ “ảo” trong “ảo cảnh” thực ra chính là chữ “ảo” và chính là nói Đại Quan Viên chính là ảnh xạ nhân gian của Thái Hư ảo cảnh.

Đối với Bảo Ngọc và đám thanh thiếu nữ quanh chàng, thế giới bên ngoài Đại quan viên coi như không tồn tại, nếu là có thì cũng chỉ có nghĩa tiêu cực mà thôi. Bởi vì bên ngoài Đại quan viên là bẩn thỉu và đoạ lạc. Thậm chí, độc giả nói chung cũng thường bị thu hút bởi cái thế giới lí tưởng Đại quan viên nên không tránh khỏi việc xem thường thế giới hiện thực bên ngoài. Thế nhưng Tào Tuyết Cần cũng quan tâm không kém đến thế giới hiện thực nhơ nhuốc và đoạ lạc. Khắc hoạ của nhà tiểu thuyết đối với thế giới hiện thực cũng tường tận và công phu không kém. Tại đây có thể thấy giữa tác giả, nhân vật chính và độc giả tồn tại những quan điểm không giống nhau.

Tào Tuyết Cần sáng tạo nên một khoảng tịnh thổ trong mộng tưởng, nhưng ông cũng ý thức sâu sắc rằng mảnh đất đó thực ra không thể vô quan hệ với thế giới hiện thực. Không những không thể thoát khỏi những quan hệ chung, trên thực tế hai thế giới đó mắc mớ mãi mãi với nhau. Bất kì một dự tính tách biệt hoàn toàn và tìm hiểu một cách cô lập, cắt rời hai thế giới đó đều không giúp ta nắm được tính hoàn chỉnh nội tại của Hồng lâu mộng. Để làm rõ điều này ta hãy kiểm điểm lại một chút cơ sở hiện thực của Đại quan viên.

Còn nhân vật “Phủ Quốc Vinh” :cũng là ở của các nhân vật, một phủ tập trung nhiều nơi ở, bao la rộng lớn, đủ mọi từng lớp loại con người khác nhau.

Tuy nhiên ngoài sự tương đồng thì giữa “thái hư ảo cảnh” và phủ Quốc vinh cũng có những điểm khác nhau.

“ Thái hư ảo cảnh” tuy đẹp nhưng không có thực, chỉ là những cảnh hư, chỉ có trong mơ, khi con người thoát khỏi ảo giác, hay giấc mơ trở về với hiện tại thì không còn cảnh đẹp, thế giới mộng mơ trước mắt nữa mà là thế giới thực. Phải chăng vì sống quá đau khổ con người thường tưởng tượng và mơ mộng đến một thế giới lạc tiên, khi xưa khi còn ở tiên giới..

Nhưng khi trong phủ quốc vinh mọi việc mọi cảnh lại trở nên thực, rõ ràng, con người không thể mơ mộng, mọi chuyện đều mắt thấy tai nghe, đều trải qua, vượt qua và chứng kiến tất cả và không như một giấc mơ, không dễ gì thay đổi được hoàn cảnh, vì vậy mà nhân vật Lâm Đại Ngọc trong Hồng Lâu Mộng thường thất vọng trước thực tại đâu đớn, nghiệt ngã.

Như vậy chúng ta có thể thấy con người không thể chìm đắm trong thế giới “thái hư ảo cảnh” được mà trở về với hiện thực và chấp nhận nó. Nhưng dù sao nhân vật cũng được phần nào thỏa sức hòa cùng thế giới mộng mơ, hư thực trong thế giới mà họ mong muốn.

III. Ý NGHĨA CỦA HUYỀN THOẠI” MỘC THẠCH TIỀN MINH” TRONG SUỐT TÁC PHẨM” HỒNG LÂU MỘNG”

Hồng Lâu Mộng là một bức tranh hiện thực về xa hội phong kiến Trung Quốc trên con đường suy tàn. Cái vẻ ngoài tôn nghiêm nề nếp không che đậy được mọt rỗng của xã hội thượng lưu sống trong Giả phủ. Cuộc sống xa hoa dâm ô của giai cấp bóc lột và những mối quan hệ tàn nhẫn của họ với nhau đưa ra giả phủ và con đường tàn tạ không cứu vãn được đó chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội đời Thanh. Cái cảm giác “cây đổ vượt tan”, “chim mỏi về rừng” đã chi phối ngòi bút của Tào Tuyết Cần, chứng tỏ ông là nhà văn hiện thực báo hiệu tuổi phong kiến của chế độ phong kiến. Huyền thoại “mộc thạch tiền minh” đã đánh giấu cột mốc trong truyện, tạo sức hấp dẫn , lôi cuốn người đọc, để lại mối tình tay ba –thực chất là  cũng không hẳn là tấn tuồng của mối tình tay ba mà là kịch tình yêu dưới chế độ phong kiến. Với nhãn quan của một dân chủ nhà văn đã nhìn thấy con người mới mang tư tưởng phản truyền thống: Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc chính là những đứa con “bất hiếu” gia đình mình, họ chống đối quan niệm trọng nam khinh nữ truyền thống,chán ghét khoa cử công danh,theo đuổi một cuộc sống tự do, chống lại khuôn phép ràng buộc. Họ yêu nhau vì phản nghịch, càng phản nghịch họ càng yêu nhau. Đó chính là hồi âm của cuộc đấu tranh cái mới chống lại cái cũ,giữa tư tưởng dân chủ sơ khai và tư tưởng phong kiến. Như vậy, tiểu thuyết Hồng lâu mộng đã sử dụng hình thức truyền kỳ và tư tưởng duy tâm, định mệnh. Vì Hồng lâu mộng có kết cấu giống như một giấc mộng lớn, ngoài ra trong tác phẩm còn đến vài chục giấc mộng lớn nhỏ khác nhau, trong đó đáng chú ý nhất là giấc mộng của Giả Bảo Ngọc ở hồi thứ 5 (chàng đến Thái hư cảnh ảo, được xem Thập nhị kim thoa chính sách, phó sách, hựu phó sách ghi rõ số mệnh của những người đẹp thành Kim Lăng…). Hơn nữa ta thấy mở đầu tác phẩm là câu chuyện hoang đường về hòn đá và cây Giáng Châu như một cái án phong lưu “Chỉ vì trên bờ sông Linh hà ở Tây Phương, bên cạnh hòn đá Tam sinh có một cây Giáng Châu được Thần Anh làm chức chầu chực ở cung Xích hà ngày ngày lấy nước cam lộ tưới bón cho nó mới tươi tốt sống lâu. Đã hấp thu tinh hoa của trời đất lại được nước cam lộ chăm bón, cây Giáng Châu thoát được hình cây, hoá thành hình người con gái, suốt ngày rong chơi ngoài cõi Ly hận đói thì ăn quả Mật thanh khát thì uống nước bể Quán sầu. Chỉ vì chưa trả được ơn bón tưới cho nên trong lòng nó vẫn mắc víu, khi nào cũng cảm thấy như còn vương vấn một mối tình gì đây. Gần đây, Thần Anh bị lửa trần rực cháy trong lòng, nhân gặp đời thái bình thịnh vượng muốn xuống cõi trần để qua kiếp ảo duyên, nên đến trước mặt vị tiên Cảnh Ảo ghi sổ, Cảnh Ảo liền hỏi đến mối tình bón tưới, biết chưa trả xong, muốn nhân đó để kết liễu câu chuyện. Nàng Giáng Châu nói: Chàng ra ơn mưa móc mà ta không có  nước để trả lại. Chàng đã xuống trần làm người, ta cũng phải đi theo. Ta lấy hết nước mắt của đời ta để trả lại cho chàng, như thế mới trang trải xong!. Từ đó dẫn đến câu chuyện tình duyên đầy nước mắt rồi lại chấm dứt như sự trả nợ một kiếp phong trần. Gạt ra ngoài tư tưởng duy tâm định mệnh thì đây cũng chỉ là một biện pháp kết cấu được ưa chuộng ở Trung Quốc nói riêng và Phương Đông nói chung.

        Thật ra, mộng ảo trong Hồng lâu mộng chỉ là sự hiện thực hoá cõi tâm linh con người. Những yếu tố hoang đường tạo nên cái khung của bức tranh xã hội Trung Quốc thế kỉ XVIII, là vật cống của tác giả cho những đòi hỏi của thời đại mình. Những chuyện hoang đường không có gì là thần bí, nó đem lại cho chúng ta bí quyết để hiểu cái vũ trụ quan vốn có của người Trung Quốc thế kỉ XVIII.

 Như vậy, có thể thấy việc sử dụng hình thức truyền kì và tư tưởng duy tâm định mệnh trong Hồng lâu mộng chỉ là phương tiện chứ không phải là cứu cánh. Có nghĩa là tác giả đã sử dụng hình thức truyền kì, tư tưởng định mệnh duy tâm như một phương tiện nghệ thuật chứ không phải muốn tuyên truyền cho tư tưởng duy tâm, định mệnh thần kì ấy. Vì vậy, bản thân Hồng lâu mộng vẫn được đánh giá là một tiểu thuyết hiện thực xuất sắc và được xếp vào đỉnh cao của tiểu thuyết Minh-Thanh.

  1. KẾT LUẬN

Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần phá vỡ cách viết truyền thống của tiểu thuyết, mở ra một thi pháp mới của tiểu thuyết. Nếu như trước đây, nhà văn phải dựa vào những câu chuyện éo le, li kỳ hoặc căng thẳng rùng rợn để tạo sự cuốn hút thì với Hồng Lâu Mộng, Tào Tuyết Cần đã thoát khỏi sự trói buộc của truyền thống ấy. Trong Hồng Lâu Mộng, cuộc sống luôn hiện ra chủ yếu là cuộc sống thường nhật. Chính trong cái cuộc sống thường nhật đó, mâu thuẫn xung đột đang phát triển, câu chuyện đang diễn biến, tính cách nhân vật đang rõ nét dần. Trong Hồng Lâu Mộng cũng có cả những sự kiện, những cơn sóng to gió lớn, đó là kết quả phát triển tự nhiên của cuộc sống hàng ngày, là biểu hiện tập trung của mâu thuẫn và ý nghĩa cuộc sống. Tào Tuyết Cần không chỉ sành sỏi khi miêu tả rất tinh tế, rất giống cuộc sống hàng ngày, mà ông còn có tài dùng ngòi bút thiên biến vạn hóa miêu tả say sưa, sinh động những sự việc lớn, những cơn sóng to gió lớn. Như đoạn Giả Bảo Ngọc bị đòn, đoạn lục soát vườn Đại quan, đều là những đoạn viết rất hay, kế thừa xuất sắc truyền thống tốt đẹp của tiểu thuyết cổ điển đồng thời lại vượt hơn hẳn bất cứ tác phẩm nào trước đó. Đó là sự điêu luyện, tự nhiên và giàu sức biểu hiện. Trong đó, ngôn ngữ nhân vật chiếm phần lớn. Rất nhiều đoạn hầu hết là đối thoại của nhân vật, tác giả chỉ miêu tả hoặc thuật chuyện hết sức gọn ghẽ để nối lại với nhau. Ở đây, ngôn ngữ nhân vật rất đa dạng, phong phú, luôn thay đổi. Những lời lẽ đó, dài hoặc ngắn, thanh hoặc thô, đều hợp với từng nhân vật. Tào Tuyết Cần đặc biệt giỏi dùng những lời đối thoại trong cuộc sống hàng ngày, không cần tô vẽ thêm bớt gì cả, để cho nhân vật dẫn dắt chúng ta đi vào thế giới nội tâm của họ và những chỗ sâu kín của cuộc đời. Bởi vậy có thể nói, về mặt thể hiện ngôn ngữ, nhân vật, cùng với Thủy hửHồng lâu mộng đã trở thành những tác phẩm mẫu mực trong tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc.

Hồng Lâu Mộng là một tuyệt tác,một tiểu thuyết ái tình hay nhất mọi thời đại, là đỉnh cao của 1 trong bốn kiệt tác tứ đại kì thư của Trung Quốc mà đến ngày nay chúng ta cũng phải thán phục.

Nguồn: K37. SP Văn ĐHSP

Ảnh: Christin Hume – unsplash.com

 

XEM THÊM: 

1/ Tư Tưởng Và Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Lỗ Tấn 

2/ Quan Niệm Nhân Sinh Trong “Hồng Lâu Mộng”