Yếu Tố Huyền Ảo Trong Tác Phẩm Của Murakami Haruki

Van Hoc 365 - Murakami Haruki

Murakami Haruki là người có khát vọng cải biến văn học Nhật Bản nói riêng và văn học thế giới nói chung. Tác phẩm của ông là sự xóa nhòa ranh giới giữa cái tầm thường và cái thanh cao, giải quyết hài hòa giữa tính chất bình dân và tính chất bác học trong sáng tạo nghệ thuật. Với những kĩ thuật điêu luyện và tài tình, Murakami đã xoay chuyển hiện thực cụ thể thành những hiện thực huyền ảo, dẫn dụ người đọc vào những mê cung của nhận thức, từ đó khám phá ra bản thể cũng như xã hội.

Yếu tố huyền ảo đã trở thành một thành tố quan trọng trong tác phẩm của Murakami Haruki. Nó tạo lập những thế giới phi lý nhưng đồng thời lại là phản quang của xã hội, người ta bước vào để tìm lối đi ra, mặc khải và minh triết cho những thiếu hụt về bản thể người.

Nhìn chung, yếu tố huyền ảo trong tác phẩm của Murakami Haruki thường được biểu hiện thông qua bốn nhóm cơ bản sau:

Giấc mơ – vô thức huyễn hoặc

Tác phẩm của Murakami Haruki thường vận dụng nhiều giấc mơ và vô thức, thậm chí đôi lúc ông còn viện dẫn Freud và Jung như những cứ liệu đàm thoại quan trọng giữa các nhân vật trong tác phẩm[1] [1, tr.256].

Giấc mơ cũng như vô thức của con người hiện diện với tư cách một “cá thể” không thể bị điều khiển bởi ý thức người, nhưng với Murakami, ông đã bẻ ngoặt “chân lý”, khiến cho giấc mơ hay vô thức cũng trở thành một công cụ của các nhân vật trong tác phẩm. Nhân vật của Murakami, một cách vô tình hay cố ý, đã sử dụng giấc mơ – vô thức để thực hiện một số hành vi, hoạt động trong đời sống của mình. Trong trường hợp này, giấc mơ không đơn thuần là giấc mơ nữa, nó đã trở thành một “vật thể thực”, hết sức sống động và có sức tác động nhất định đối với ý thức. Đó là cơ sở để những giấc mơ trong tác phẩm của Murakami trở thành huyền ảo.

Thế giới trong những giấc mơ – vô thức huyễn hoặc là thế giới không thể tồn tại trong đời sống thực, hoặc giả, nếu chúng tồn tại thì cũng nằm ngoài nhận thức của con người. Trong thế giới ấy, nhân vật của Murakami vẫn có đầy đủ các điều kiện để thi hành các chức năng của một thế giới bình thường, khác chăng chỉ là tất cả đều diễn ra khi nhân vật ngoài đời thực đang ngủ, còn nhân vật ảo thì nằm trong giấc mơ. Đây không phải là phân thân mà nó là dạng thức của ảo giác, là cõi vô thức thức dậy và thực thi những ẩn chứa thầm kín nhất của cái tôi, của bản ngã. Và trong thế giới của vô thức huyễn hoặc ấy, mọi giới hạn về không gian, thời gian đều bị xóa nhòa, con người có thể vượt thoát những rào cản vật lý để đạt được mục đích của mình.

Toru Okada trong Biên niên kí chim vặn dây cót đã chiến đấu trong thế giới mơ đầy rẫy những hiểm nguy vây quanh. Anh là người được lựa chọn trong cuộc chiến bạo tàn của ánh sáng chống lại bóng tối, của cái Thiện chống lại cái Ác để cứu về niềm tin mặc khải cho chính nghĩa, cũng như giải thoát người vợ thân yêu của mình. Thế giới mơ mà Toru Okada phải đối diện là một không gian rộng lớn với khách sạn mơ, căn phòng 209, người không mặt, Wataya Noboru… Tương tự như Toru Okada, Kafka Tamura trong Kafka bên bờ biển đã tiến hành giải cứu lời nguyền của cha mình về nỗi ám ảnh mang tên Oedipe trong hàng loạt các giấc mơ – vô thức huyễn hoặc như vậy. Kafka đã tỉnh dậy với chiếc áo pull vấy máu mà không hiểu được vì sao, phải đến khi nghe tin người cha bị giết cậu mới lờ mờ nhận ra sức nặng của lời nguyền. Ngoài việc ngủ với mẹ mình là Miss Saeki thì Kafka còn quan hệ với chị gái mình là Sakura trong giấc mơ đầy nhục cảm. Kafka tìm cách chạy trốn nhưng chính cậu lại chạy về phía lời nguyền mà cậu không hay biết. Cách đối mặt với lời nguyền của Kafka thật bạo liệt và nó tỏ rõ sự cô đơn đến cùng tận của bản thể. Kafka không thể thoát khỏi cái bản ngã níu kéo của mình, cậu bất lực ở thực tại và chỉ có thể hành động trong những giấc mơ.

Giấc mơ – vô thức huyễn hoặc trong tác phẩm của Haruki Murakami đóng vai trò là một phương án để giải quyết các bế tắc của đời sống thực. Ở một góc độ nào đó, giấc mơ buộc phải xuất hiện để giúp cho nhân vật của Murakami có một cứu cánh bám vào, để họ thực hiện sứ mệnh của mình như những người dấn thân nhưng hầu hết trong nhiều trường hợp họ chỉ nhận thấy được kết quả của sự việc chứ không hề ý thức được sự việc diễn ra như thế nào. Chẳng hạn, Katagiri trong truyện ngắn Cậu Ếch cứu Tokyo không thể nào hình dung được rằng trong giấc hôn mê sâu của mình anh đã giúp Cậu Ếch chiến đấu chống lại Cậu Trùn, cứu Tokyo thoát khỏi một trận động đất thảm khốc.

Giấc mơ – vô thức huyễn hoặc là một kênh biểu hiện có tần số lớn và chiếm lĩnh vai trò khá quan trọng trong kỹ thuật xử lý cái huyền ảo của Murakami. Nó cũng đồng thời là một trong những chìa khóa cốt yếu để mở ra nhiều vấn đề trong tác phẩm của tiểu thuyết gia người Nhật này.

Thế giới khác lạ

Khi thế giới thực tại bị lung lay bởi nhiều nguy cơ khác nhau, nhân vật của Murakami trở nên bị ám ảnh bởi hiện thực và bắt đầu những cuộc tìm kiếm sự cứu rỗi, chính trong những hành trình như vậy, họ sẽ bắt gặp thế giới khác lạ – nơi mà cái huyền ảo được lên ngôi. Thế giới này là hình ảnh soi chiếu của hiện thực, chúng được phân tách bằng một đường biên nối kết mà bước qua đường biên đó, con người sẽ bị nuốt chửng trong những không gian vô hồi, mê cung mờ mịt. Trong những trạng huống như vậy, nhân vật của Murakami Haruki phải vật lộn với nhiều cuộc xung đột trong tư duy, trong hữu thức – vô thức để quyết định ở lại hay thoát ra khỏi thế giới huyền ảo đó.

Kafka trong Kafka bên bờ biển hay nhân vật toán sư trong Xứ sở diệu kì tàn bạo và chốn tận cùng thế giới là những người đứng trước những lựa chọn khó khăn như vậy. Kafka theo đuổi hình bóng của Miss Saeki mười lăm tuổi và cậu đã gặp được ở thế giới đằng sau phiến đá cửa vào. Miss Saeki tồn tại nhưng đó không phải là hiện thực, nó chỉ là chiếu ảnh của một kí ức mang tên Saeki, tất cả chỉ là bóng mờ của những khoảnh khắc đã qua. Kafka lúc này cũng là một nửa cái bóng không hơn, và cậu cần Saeki để lấp đầy khoảng trống của chiếc bóng còn lại. Đó là lý do vì sao Kafka từ bỏ thế giới bên ngoài để bước vào thế giới huyền ảo này. Tuy nhiên, Miss Saeki ngoài năm mươi tuổi đã bắt buộc cậu quay trở lại với thế giới thực tại, bởi lẽ Kafka đã tìm được câu trả lời cho tất cả nghi vấn của mình. Cậu cần một không gian thực, hơi thở thực chứ không phải là một cuộc sống mà thời gian vô nghĩa, mọi người không cần ăn, không cần đến tên và ngay cả kí ức cũng không. Đó sẽ là một sự đánh đổi quá lớn của trang thiếu niên mười lăm tuổi khi mà cuộc đời đang còn dài phía trước.

Nhân vật xưng “tôi” trong Xứ sở diệu kì tàn bạo và chốn tận cùng thế giới lại chứa đựng cả một chốn tận cùng thế giới trong đầu mình. Chốn tận cùng thế giới là chốn của vĩnh cửu nhưng người ta phải đổi cả tâm hồn mình để lấy điều đó. Không còn khổ đau, thương yêu, oán giận, kí ức… con người sẽ đạt đến sự toàn bích hay phải chăng đó là một cái giá quá đắt? Nhân vật người đọc mơ ở chốn tận cùng thế giới – cái tôi khác của nhân vật toán sư – đã ý thức được cái giá phải trả ấy và anh cần sự tự do. Tuy nhiên khi đứng trước cánh cửa vượt thoát khỏi chốn tận cùng thế giới cùng cái bóng của mình, anh đã từ chối bước ra cõi ánh sáng. Người đọc mơ đã ở lại vì chính anh là người khởi tạo cái thế giới ấy, và không ai khác ngoài anh phải giải thoát cho tất cả những sinh linh trong chốn hoải hoang này: “Tôi phải gánh trách nhiệm đó”, tôi nói. “Tôi không thể thây kệ những con người và cái thành phố do tôi tạo ra và cứ thế ra đi […]. Nhưng tôi phải chịu trách nhiệm cho những gì mình đã làm” [2, tr.614]. Người đọc mơ trở thành người gánh trách nhiệm tựa như Toru Okada trong Biên niên kí chim vặn dây cót, anh cũng là một kiểu người gánh trách nhiệm như vậy trong cuộc chiến chống lại Wataya Noboru để cứu Kumiko – người vợ của mình. Cuộc chiến của Toru dưới lòng đất, trong khách sạn mơ là một cuộc chiến trong thế giới mơ hồ, không xác định, nhưng sự thật vẫn là cái chết của chính khách Wataya Noboru, những vết thương của Toru, dòng chảy được khơi thông…

Độc giả có thể tìm thấy rất nhiều những thế giới khác lạ như vậy trong tác phẩm của Murakami. Thông thường, mỗi thế giới khác lạ đều được định danh theo một cách nào đó: thế giới đằng sau phiến đá cửa vào trong Kafka bên bờ biển, khách sạn mơ trong Biên niên kí chim vặn dây cót, xứ sở diệu kì tàn bạo và chốn tận cùng thế giới trong tác phẩm cùng tên, vương quốc đã băng hoại trong truyện ngắn Vương quốc đã băng hoại, công trường pha chế voi trong truyện ngắn Người Lùn nhảy múa… Những thế giới này được Murakami miêu tả một cách cụ thể và sống động để cố gắng chứng minh cho người đọc thấy rằng đó là thế giới có thực chứ không phải là sản phẩm của tưởng tượng.

Sự xuất hiện của những thế giới khác lạ góp phần thể hiện một cách độc đáo yếu tố huyền ảo trong tác phẩm của Murakami Haruki. Nó tạo thành một tấm gương phản chiếu để người ta suy ngẫm và rút ra những bài học cho riêng mình thông qua mối quan hệ thực – ảo trong đời sống khôn cùng này.

Nhân vật kì ảo

Hệ thống nhân vật huyền ảo của Murakami chứa đựng nhiều nét dị thường, có sự hòa trộn giữa yếu tố thực và yếu tố ảo trong chính bản thân một nhân vật. Hơn nữa mỗi người trong số họ đều mang một biểu tượng nhất định trong tư duy nghệ thuật của tác giả. Xét từ phương diện nhân vật, yếu tố huyền ảo trong tác phẩm của Murakami Haruki thể hiện tập trung ở khá nhiều chi tiết: ngoại hình, xuất xứ, tính cách, các năng lực phi phàm… Hầu hết các phương diện này đều được nâng lên trên mức bình thường, đầy quái dị và có sự pha trộn thực – ảo hết sức phức tạp. Những nhân vật đó đồng thời sống hai môi trường: thế giới hiện thực và thế giới ảo. Ranh giới giữa hai môi trường đó không hẳn là ổn định và nhân vật có thể thoải mái di chuyển giữa các không gian[2] [3, tr.148].

Yếu tố huyền ảo thể hiện qua hệ thống nhân vật kì ảo có thể phân chia thành các tuyến: các nhân vật có năng lực bí hiểm, các nhân vật dị nhân – quái thú và cuối cùng là các nhân vật bị biến đổi một cách bất ngờ.

Ở tuyến thứ nhất, có thể kể đến một số nhân vật như: trong Biên niên kí chim vặn dây cót là hai chị em Kano Malta, Kano Creta có khả năng nghe được vận động của nước, Creta còn có thể làm tình trong mơ; Akasaka Nhục Đậu Khấu có khả năng chữa bệnh bằng năng lực đặc biệt; trong Kafka bên bờ biển là Nakata và sau đó là Hoshino có khả năng nói chuyện với mèo, ông lão Nakata sau khi giết Johnnie Walker còn có thể tiên đoán trước sự việc; trong Xứ sở diệu kì tàn bạo và chốn tận cùng thế giới là nhà khoa học có khả năng tắt âm thanh… Hầu hết các nhân vật dạng này đều là những người có những năng lực, khả năng mà người bình thường không có được, nó chỉ có thể tồn tại trong trí tưởng tượng hoặc ham muốn của con người mà thôi.

Dạng thức nhân vật dị nhân – quái thú không phải là sản phẩm mới lạ, riêng có của Murakami, tuy nhiên chúng lại được khoác những tầng ý nghĩa mới trong hệ thức huyền ảo độc đáo của nhà văn. Ở tuyến nhân vật này có thể kể đến người đàn ông băng hay quái thú màu lục, Người Ti-Vi trong các truyện ngắn cùng tên, Người Lùn trong truyện ngắn Người Lùn nhảy múa; Cậu Ếch, Cậu Trùn trong truyện ngắn Cậu Ếch cứu Tokyo, Người Cừu trong truyện ngắn Đường Cây Xanh ở SydneyGiáng sinh của Người Cừu, sư tử biển trong truyện ngắn Lễ hội sư tử biển, đại tá Sanders trong Kafka bên bờ biển… Điểm chung của các nhân vật dị nhân – quái thú là chỉ tồn tại trong một giới hạn nhận biết nhất định. Thường thì chỉ có một số ít người có thể nhận thấy, tiếp xúc với các nhân vật kiểu này.

Các nhân vật bị biến đổi một cách bất ngờ trong sáng tác của Murakami cho thấy sức tác động mãnh liệt của yếu tố huyền ảo lên nhân vật. Sự tác động này thường do một biến cố có tính chất bước ngoặt, khiến cho sau biến cố đó nhân vật trở nên khác lạ và gần như trở thành một con người mới. Tiêu biểu cho kiểu nhân vật này là Miu trong Người tình Sputnik. Miu đã chứng kiến chính mình làm tình với một người lạ mặt trong căn phòng của mình cứ như thể đó là bản sao của cô. Sau tai nạn đó, Miu đã đánh mất bản thể của mình, tóc cô bạc trắng sau một đêm và trở nên lãnh cảm. Những gì Miu phải chịu đựng là hệ quả của một sự việc quá phi lý mà cô không thể tin.

Những người bị biến đổi hầu hết sẽ đánh mất con người trước đó của mình, họ rất khó khăn trong việc tìm lại cái đã mất dù cố gắng đến đâu. Akasaka Quế trong Biên niên kí chim vặn dây cót cũng chính là cậu bé lên sáu trong đêm nghe thấy tiếng chim vặn dây cót để rồi mất đi tiếng nói của mình mãi mãi. Vị toán sư trong Xứ sở diệu kì tàn bạo và chốn tận cùng thế giới rơi vào một cõi khác vì sai lầm của nhà khoa học, để rồi sẽ chìm đắm trong chốn tận cùng thế giới với những con người và sự vật lạ thường… Có thể xem những biến đổi này là một ám dụ của Murakami về tai họa – điều mà con người thường hứng chịu một cách bất ngờ trong cuộc sống. Hầu hết các thảm họa có sức tức động mãnh liệt này trong tác phẩm của Murakami đều do con người gây nên: sai lầm của vị bác học trong Xứ sở diệu kì tàn bạo và chốn tận cùng thế giới, sự khơi dậy bản năng đê hèn trong Biên niên kí chim vặn dây cót, lời nguyền Oedipe trong Kafka bên bờ biển và sự hững hờ giữa con người với nhau trong Sau nửa đêm… Các sáng tác về sau của Haruki Murakami có dấu hiệu bị chi phối của chấn thương tâm lý sau thảm họa kép của Nhật Bản năm 1995[3]. Vậy nên, motif thảm họa xuất hiện khá thường xuyên trong sáng tác của nhà văn người Nhật này như một nguyên nhân khiến con người trở thành khác lạ.

Nhân vật kì ảo là một kênh biểu hiện có nhiều ưu việt của yếu tố huyền ảo. Bởi vì nhân vật là tuyến xuyên suốt, xuất hiện liên tục trong chiều dài tác phẩm. Hệ thống nhân vật với hành trang là thế giới bí hiểm, những giấc mơ lạ kì, năng lực siêu phàm chính là những sứ giả nhiệt thành nhất của việc chuyên chở không khí huyền ảo đến với người đọc.

Chi tiết, sự vật, hiện tượng dị thường

Murakami đã rất tài tình trong việc tạo ra bầu không khí huyền ảo cho tác phẩm của mình, chúng được hòa quyện trong thế giới thực nhưng lại cũng tách biệt với thế giới ấy. Các chi tiết, sự vật, hiện tượng xảy đến khó đoán định và hết sức bất ngờ. Người ta không thể tìm thấy nguyên nhân cũng như lý giải được vì sao lại có một trận mưa cá mòi và cá thu sau hôm Johnnie Walker bị giết, cũng tương tự như vậy với trường hợp trận mưa đỉa ở bãi đỗ xe mà Nakata đã chứng kiến nhóm thanh niên hành hung nhau (Kafka bên bờ biển)[4]. Các chi tiết, sự vật, hiện tượng ấy đôi khi chỉ là một trải nghiệm cá nhân, chẳng hạn như trường hợp của trung úy Mamiya trong lòng giếng cạn ở Nội Mông: trong khoảnh khắc cận kề cái chết, ánh sáng của mặt trời Nội Mông đã mặc khải cõi u minh trong bản thể của Mamiya (Biên niên kí chim vặn dây cót).

Hệ thống các chi tiết, sự vật, hiện tượng lạ thường trong tác phẩm của Murakami Haruki có thể nhận thấy hai khuynh hướng khá rõ nét: khuynh hướng thứ nhất là các yếu tố liên quan đến thế giới thần ma, linh hồn và sự phân tách bản thể; khuynh hướng còn lại các hiện tượng kì bí, siêu nhiên đầy màu sắc ma quái.

Trong một số tác phẩm, Murakami xây dựng các chi tiết ma quái tồn tại song song với thế giới của con người, tiêu biểu nhất phải kể đến lũ ma đen dưới lòng đất trong Xứ sở diệu kì tàn bạo và chốn tận cùng thế giới, hay những bóng ma nhảy múa hằng đêm trong ngôi nhà của Casey trong truyện ngắn Bóng ma ở Lexington, quái thú màu lục trong truyện ngắn cùng tên… Bên cạnh thế giới thần ma là các ảnh chiếu khác nhau của linh hồn hay sự phân tách bản thể. Trong bản thân của Kafka lại có một thằng tên Quạ thường xuyên đối thoại, cật vấn, đay nghiến Kafka hay cùng với Miss Saeki ngoài năm mươi tuổi là Miss Saeki mười lăm tuổi (Kafka bên bờ biển); Miu vừa là cô gái ngồi trong chiếc đu quay vừa là cô gái làm tình một cách thô tục trong căn phòng của mình (Người tình Sputnik)…

Các sự việc, hiện tượng kì bí, đầy màu sắc siêu nhiên trong tác phẩm của Murakami Haruki được đặt ngay trong đời sống thực (của nhân vật), những người trải nghiệm khó lòng lý giải được căn nguyên. Truyện ngắn Con voi biến mất là một dạng như vậy. Chú voi trong sở thú thành phố bỗng dưng biến mất một cách bí ẩn, báo giới bất lực trong việc giải thích lý do, các nhà chức trách nỗ lực tìm kiếm nhưng bất thành, cuối cùng sự việc rơi vào quên lãng. Việc biến mất kì lạ của chú voi có thể xem là một thông điệp về sự suy sụp các tượng đài giá trị, sự bỏ rơi của hiện tại đối với những gì đã mất, và rồi, cái đã mất lạ thường cũng trở nên bình thường. Đó là một vấn đề trọng đại mà Murakami muốn cảnh báo đối với xã hội hiện đại.

*

Chất liệu của chi tiết nghệ thuật chính là từ đời sống, qua trí tưởng tượng huyền ảo của nhà văn, chúng được xây dựng thành hệ thống tín hiệu thẩm mỹ riêng, bao trùm bầu không khí của khác lạ, dị thường. Điều này không hẳn ngăn cản sự tiếp nhận của độc giả mà trái lại còn kích thích khả năng tìm đến tác phẩm của người đọc. Chi tiết, sự vật hiện tượng dị thường tác động đến trí tò mò của con người, khiến con người khao khát khám phá các chân trời mới lạ mà tư duy chưa đặt chân đến. Những trang văn huyền ảo của Murakami Haruaki đã minh chứng đầy thuyết phục cho điều này.

NGUYỄN ANH DÂN 

Ảnh: Jan Gottweiss

Tài liệu tham khảo

[1] Murakami Haruki (2007), Kafka bên bờ biển (tiểu thuyết), Dương Tường dịch, Nxb Văn Học, Nhã Nam, Hà Nội.

[2] Murakami Haruki (2010), Xứ sở diệu kì tàn bạo và chốn tận cùng thế giới(tiểu thuyết), Lê Quang dịch, Nxb Hội Nhà Văn, Nhã Nam, Hà Nội.

[3] Nguyễn Thị Kim Ngân (2013), “Sự tái sinh các motif folklore trong Biên niên kí chim vặn dây cót của Murakami”, Văn học hậu hiện đại – Lý thuyết và thực tiễn, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, tr.148-155


[1] Tham khảo đoạn đối thoại giữa Kafka Tamura và Oshima ở trang 256, Kafka bên bờ biển

[2] Hiện tượng nhân vật di chuyển dễ dàng giữa các lớp không gian đã xuất hiện trong nhiều tác phẩm folklore của nhiều dân tộc khác nhau. Rất có thể Murakami Haruki đã bị ảnh hưởng từ các huyền thoại folklore trong các tác phẩm của mình. Về điểm này, xin tham khảo thêm bài viết “Sự tái sinh các motif folklore trong Biên niên kí chim vặn dây cót của Murakami” của Nguyễn Thị Kim Ngân, in trong Văn học hậu hiện đại – Lý thuyết và thực tiễn, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2013.

[3] Thảm họa kép năm 1995 ở Nhật Bản bao gồm trận động đất ở Kobe và vụ tấn công bến xe điện ngầm Tokyo. Động đất Kobe: trận động đất kinh hoàng xảy ra vào ngày 17/01/1995 tại Kobe, phía nam tỉnh Hyogo, Nhật Bản. Thiệt hại về người ước tính khoảng 6.434 người, kinh tế thiệt hại khoảng 10.000 tỷ yen (tương đương khoảng hơn 100 tỷ USD); Thảm họa Aum: vụ tấn công bằng khí sarine ngày 20/03/1995 tại bến xe điện ngầm thủ đô Tokyo, do 5 thành viên giáo pháo Aum Shinrinkyo thực hiện. Vụ tấn công khiến 12 chết tại chỗ và khoảng 5000 người bị tổn hại sức khỏe.

[4] Trong thực tế, ở Australia người ta đã 3 lần chứng kiến hiện tượng mưa cá, đó là vào các năm 1974, 2004 và mới đây nhất là vào tháng 03 năm 2010. Nhưng hầu hết các trận mưa cá này là do lốc xoáy, bão và vòi rồng gây ra. Tham khảo thêm: http://vnexpress.net/GL/Khoa-hoc/2010/03/3BA19338/